Thư kêu gọi xây dưng quỹ Tấm lòng vàng họ Phạm Việt Nam.

Kính gửi các tổ chức, cá nhân, các nhà doanh nghiệp
cùng toàn thể bà con họ Phạm trong và ngoài nước.
Trong những năm qua, các hoạt động tình nghĩa của Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam cũng như của các Ban Liên lạc họ Phạm các địa phương, của các Hội đồng gia tộc các dòng họ Phạm cả nước đã có nhiều hình thức phong phú, kết quả thiết thực, cụ thể là đã khen thưởng động viên các cháu có bố hoặc mẹ họ Phạm đạt thành tích cao trong học tập và các hoạt động khác, cấp học bổng cho các cháu vượt khó vươn lên học giỏi, đồng thời trợ giúp cho các gia đình họ Phạm gặp khó khăn đặc biệt. Nhiều tổ chức, cá nhân, nhiều nhà doanh nghiệp, nhà hảo tâm đã đứng ra tài trợ, đóng góp công của cho các hoạt động này, tạo nên tình cảm đồng tộc rất tốt đẹp, đúng với truyền thống văn hiến của Dân tộc ta. Xem tiếp
.
Hiển thị các bài đăng có nhãn *HỌ PHẠM VỚI ĐẤT NƯỚC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn *HỌ PHẠM VỚI ĐẤT NƯỚC. Hiển thị tất cả bài đăng

20 tháng 7, 2011

Phạm Đức Sơn nhà Cách mạng kiên trung

Đăng ngày Thứ Tư, tháng 7 20, 2011 bởi Phạm Đạo · 0 comments

Lời BBT: nhân ngày thương binh liệt sỹ chúng tôi xin giơi thiệu cùng bạn đọc bài viết của ông Phạm Văn Dương về đồng chí

PHẠM ĐỨC SƠN NHÀ CÁCH MẠNG KIÊN TRUNG


Mộ Đ/c Phạm Đức Sơn trong nghĩa trang Tp.Hồ Chí Minh

 Người trong ảnh là anh Phạm Kháng Trường,
                                                           con trai đ/c Phạm Đức Sơn
Đồng chí Phạm Đức Sơn (1919 – 1969) còn có các tên: Phan Đức, Tư Trường, Chín Nhỏ..., nguyên Uỷ viên Xứ uỷ Nam Bộ (1954), nhà cách mạng cùng thời với các đồng chí Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Mai chí Thọ..., đã anh dũng hy sinh trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy năm 1968 – 1969, đến nay còn ít người biết đến.

Đồng chí Phạm Đức Sơn quê làng Phù Lưu, tổng Phù Lưu, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, (nay là khu phố Phù Lưu, phường Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), gíac ngộ cách mạng từ năm 1936, tham gia tổ chức Thanh niên Dân chủ Phản đế (1936 – 1939), được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1940 tại Hà Nội.

Năm 1944, đồng chí vào Nam Bộ xây dưng cơ sở cách mạng ở Gò Vấp Hóc Môn tỉnh Gia Định, tham gí cướp chính quyền ở Hóc Môn và Sài gòn năm 1945. Trong Kháng chiến chống Pháp, đồng chí liên tục hoạt động ở chiến trường Nam Bộ với những cương vị: Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh tỉnh Gia Định, tỉnh Sa Đéc, Uỷ viên Chánh trị trưởng, Quân khu uỷ viên Khu 8, Uỷ viên Ban Tuyên huấn Xứ uỷ, Phó trưởng Ban Đảng vụ (Ban Tổ chức) Xứ uỷ Nam Bộ, Phó trưởng ban Tổ chức Trung ương cục Miền Nam, Phó Bí thư tỉnh uỷ Sóc Trăng. (Trích Lời Tưởng niệm do đồng chí Võ Viết Thanh, Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tich UBND thành phố Hồ Chí Minh đọc tại buổi lễ cải táng đồng chí Phạm Đức Sơn ngày 15.10.1998)
Từ tháng 7.1954, đồng chí được phân công ở lại Miền Nam, tham gia Xứ uỷ Nam Bộ. Xứ uỷ có 12 uỷ viên chính thức, 3 uỷ viên dự khuyết gồm: Bí thư Lê Duẩn, Phó Bí thư Phạm Hữu Lầu, Uỷ viên Thường trực Hoàng Dư Khương, các Uỷ viên Thường vụ Phan Văn Đáng, Lê Toàn Thư, Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Văn Linh, Phạm Thái Bường, các Uỷ viên Phạm Văn Xô, Phan Đức (Phạm Đức Sơn), Văn Viên, Nguyễn Minh Đường, các Uỷ viên Dự khuyết Võ Văn Kiệt, Võ Văn Khánh, Mai chí Thọ. Xứ uỷ chia Nam Bộ thành 3 Liên tỉnh (Miền Đông, Miền Trung, Miền Tây) và 1 khu (Sài Gòn - Chợ Lớn). Liên tỉnh uỷ Miền Đông (gồm 6 tỉnh: Bà Rịa, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Gia Định, Tây Ninh, Chợ Lớn) do Phan Đức (Phạm Đức Sơn) làm Bí thư. (Trích Lịch sử Nam bộ kháng chiến - tập 1, trang 518 – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật năm 2010).

Cuối năm 1959, đồng chí ra Miền Bắc chữa bệnh rồi làm Uỷ viên Ban Thống nhất Trung ương. Đến năm 1963, trước yêu cầu mới, đồng chí trở lại chiến trường Miền Nam phụ trách Ban Binh vận Trung ương cục Miền Nam., sau đó về làm Uỷ viên Thường vụ Khu Sài Gòn – Gia Định. Từ cuối năm 1964, đồng chí làm Bí thư Phân khu Bình Tân (gồm huyện Bình Chánh, quận Tân Bình, các quận 5, 6, 3). Đây là chiến trường hết sức ác liệt nhưng đồng chí cùng cán bộ chiến sĩ kiên cường bám trụ, gây dựng cơ sở cách mạng trong nội thành, xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang cho Phân khu. Đến đợt Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), đồng chí đẩm nhiệm Bí thư Phân khu ủy, Chính ủy Phân khu 1 thuộc Đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định mở rộng, một khu trọng yếu của chiến trường Miền Nam. Với cương vị phụ trách một mũi tiến công trọng yếu đánh vào Sài Gòn, sào huyệt đầu não của Mỹ - ngụy, đồng chí đã tham gia các đợt tiến công lớn suốt năm 1968 đến đầu năm 1969. Tháng 3.1969, trên đường đi công tác, đồng chí đã anh dũng hy sinh tại Bàu Dưng, ấp Bình Phú, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (Trích Lời tưởng niệm của đồng chí Võ Viết Thanh).

Cuối năm 1969, khi biết tin đồng chí Phạm Đức Sơn hy sinh, Ban Thống nhất Trung ương đã tổ chức trọng thể Lễ truy điệu động chí tại Hà Nội. Điếu văn đọc trong buổi Lễ truy điệu đồng chí Phạm Đức Sơn có đoạn viết: "Trong hơn 30 năm đấu tranh cách mạng, khi bí mật, lúc công khai, dù ở Miến Bắc hay Miền Nam, trong Kháng chiến chống Pháp cũng như trong Kháng chiến chống Mỹ, khi phong trào phát triển thuận lợi cũng như lúc tạm thời gặp khó khăn, ở đâu và lúc nào, đồng chí Phan Đức (Phạm Đức Sơn) cũng tỏ ra là một đảng viên, một cán bộ vững vàng và trung kiên của Đảng. Với đức tính cần cù, khiêm tốn, giản dị, với tinh thần cách mạng kiên cường, với lòng tin tuyệt đối vào Đảng, được đồng chí và động bào yêu mến, đồng chí Phan Đức (Phạm Đức Sơn) đã hoàn thành tốt những nhiệm vụ trọng yếu của Đảng giao cho"

Cùng đi công tác và hy sinh với đòng chí Phạm Đức Sơn, Bí thư Phân khu ủy, Chính ủy Phân khu 1 còn có đồng chí Trần Đình Xu, Tư lệnh Phân khu 1, đồng chí Huỳnh Văn Bánh, Trưởng Ban Bảo vệ Phân khu 1 và 2 đồng chí cận vệ. Năm 1998, gia đình đã tìm thấy hài cốt các đòng chí tại Đồi 82, xã Thạnh Tây, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy tỉnh Tây Ninh, Tỉnh ủy tỉnh Đồng Tháp, Tỉnh ủy tỉnh Sóc Trăng và gia đình đã tổ chức Lễ cải táng đồng chí Phạm Đức Sơn vào hồi 10 gờ ngày 15.10.1998. Các đồng chí Phạm Đức Sơn, Trần Đình Xu, Huỳnh Văn Bánh yên nghỉ sát bên nhau trong Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh.

Vì những công lao to lớn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Dân tộc, ngày 06.11.2001, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho đồng chí Phạm Đức Sơn. Đây là phần thưởng vô cùng cao quý của Đảng và Nhà nước mà đồng chí Phạm Đức Sơn xứng đáng được nhận.

Hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh có 2 đường phố to đẹp mang tên Trần Đình Xu và Huỳnh Văn Bánh. Hy vọng rằng tên đồng chí Phạm Đức Sơn cũng sẽ được đặt cho một đường phố lớn tại thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố thuộc các tỉnh mà đồng chí đã có nhiều công lao đóng góp. Tên tuổi đồng chí Phạm Đức Sơn xứng đáng được các thế hệ cách mạng ghi nhớ mãi mãi.

PHẠM VĂN DƯƠNG
»»  Đọc tiếp

15 tháng 5, 2011

Jennifer Phạm giới thiệu phim Hollywood

Đăng ngày Chủ Nhật, tháng 5 15, 2011 bởi Phạm Đạo · 0 comments



Jennifer Phạm giới thiệu phim Hollywood

Với thời lượng chỉ gói gọn trong vòng 5 phút, Jennifer Phạm vẫn đủ thời gian khiến khán giả hồi hộp chờ đợi những bộ phim của Hollywood sẽ phát sóng trên K+1 từ tháng 5.2011.

Phần giới thiệu này sẽ bắt đầu vào lúc 17 giờ 45 tối thứ sáu hằng tuần từ 13.5, khán giả sẽ hiểu hơn về nội dung của bộ phim, những câu chuyện hậu kỳ, phía sau màn ảnh, các diễn biến tâm lý nhân vật, các xung đột, mâu thuẫn… trong phim. Đây là một cách làm mới trong việc giúp khán giả Việt thưởng thức các bộ phim hàng đầu của Hollywood.

Trước mắt Jennifer Phạm sẽ giới thiệu một loạt phim hành động, tình cảm của ngôi sao điện ảnh Hollywood Mel Gibson trong 3 bộ phim Forever Young (phát sóng 13.5), Payback (PS 20.5) và Lethal Weapon (PS 27.5) đều từ 19 giờ 45.
»»  Đọc tiếp

14 tháng 3, 2011

Chuyện về gia đình có ba anh hùng

Đăng ngày Thứ Hai, tháng 3 14, 2011 bởi Phạm Đạo · 0 comments

Chuyện về gia đình có ba anh hùng

LGT : Bài này được đăng trên VTC New ngày 11.2.2011 về gia đình cụ bà Phạm Thị Huệ ở Điện Bàn – Quảng Nam. Cụ Phạm Thị Huệ và con dâu cụ đều là Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, còn con trai cụ là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Câu chuyện dưới đây là nói về ông Đinh Châu con trai cụ Phạm Thị Huệ. BBT

(VTC News) - Ở xã Điện Nam Đông, Điện Bàn (Quảng Nam) có một gia đình rất đặc biệt bởi có đến 3 anh hùng. Đó là gia đình Cụ bà Phạm Thị Huệ. Cụ là Bà mẹ Việt Nam anh hùng có chồng và 3 con trai liệt sĩ. Con dâu bà là Nguyễn Thị Phấn cũng là Bà mẹ Việt Nam anh hùng, có chồng, con và bản thân là liệt sĩ. Ông Đinh Châu (Nguyễn Hữu Đức), con trai Cụ Huệ (chồng bà Phấn) là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Anh Đinh Văn Ba cùng các kỷ vật (bên tráii) và trang sách Chân dung anh hùng thời đại Hồ Chí Minh viết về cha mình.

Người chỉ huy hai trong một

Trong ký ức của các đồng chí Võ Thanh Ba, Đại tá Lê Đình Sanh, Đại tá Nguyễn Văn Trí, chân dung người anh hùng Đinh Châu hiện lên với tài đức vẹn toàn. Ông vừa là một cán bộ quân sự mưu trí, dũng cảm, vừa là một cán bộ chính trị sâu sắc, nhân ái, hết mực thương yêu chiến sĩ. Ở cương vị nào ông cũng đã để lại những dấu ấn khó quên. Sinh năm 1926, từ chỉ huy du kích xã, ông Đinh Châu được cử làm trợ lý Huyện đội Điện Bàn, đại đội trưởng đại đội 230 của Tiểu đoàn 17 Quảng Nam- Đà Nẵng. Tập kết ra Bắc, ông công tác trong Sư đoàn bảo vệ thủ đô 350, là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, sau đó về quê hương chiến đấu, trở thành lớp cán bộ quân sự đầu tiên của tỉnh Quảng Nam.

Trong những năm gian khó trăm bề ấy, ông cùng Ban Quân sự tỉnh trực tiếp xây dựng căn cứ, phát triển lực lượng, phát động chiến tranh nhân dân làm nên những trận đầu thắng lớn của LLVT địa phương như ở làng ông Tía, Gia Lâu, Bốt Xít, Hiệp Đức, Phó Nam. Mặc dù công tác bận rộn nhưng những đợt phá rẫy, tuốt lúa, gùi gạo, trồng sắn, làm nhà, nhất là cải thiện đời sống cho đơn vị, ông đều năng nổ, tích cực, hoà mình vào đời sống chiến sĩ. Đơn vị có ít quân trang, ông luôn nhường cho anh em, còn ông, dù là Tỉnh đội trưởng tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng vẫn bộ bà ba đen bạc phếch, chiếc mũ tai bèo đã sờn, khi đi phát rẫy vẫn quần đùi áo cổ vuông, mong manh bốn mùa.

Trong cuộc Tổng Tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trên cương vị Phó Tham mưu trưởng rồi Tham mưu trưởng Mặt trận 4, Thành đội trưởng Đà Nẵng, ông được Thường vụ Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Mặt trận 4 cử làm chỉ huy trưởng cánh quân Đông Nam, dùng Tiểu đoàn 1 (R20) thọc sâu, mở bàn đạp cho Sư đoàn 2 phát triển vào nội thành. Gặp sự phản công quyết liệt của địch ở khu vực Trung Lương- Cồn Dầu (Hoà Vang), suốt cả ngày 30-1-1968, ông vừa trực tiếp cầm súng chiến đấu vừa tổ chức động viên cán bộ, chiến sĩ đánh trả kiên cường trong từng mảnh vườn, luỹ tre, từng căn nhà vùng giao tranh, phá được vòng vây trong đêm 30. Gặp tổ phục kích của Mỹ, ông đã hy sinh rạng sáng ngày 31. Đến nay, gia đình vẫn chưa tìm được hài cốt người anh hùng.

Trong buổi tưởng niệm nhân 40 năm ngày mất của ông tại nhà con trai ông trên đường Bế Văn Đàn, thành phố Đà Nẵng, đã có rất đông bạn bè chiến đấu của ông. Không phải bây giờ mà từ nhiều năm nay, Tỉnh đội Quảng Nam, UBND thành phố Đà Nẵng, Sư đoàn Bảo vệ Thủ đô 350, Tiểu đoàn 1 (R20)... đều thường xuyên đến thăm, hương khói. Tên ông sẽ được đặt cho một con đường ở thành phố Đà Nẵng. Liệt sĩ Đinh Châu đã ra đi nhưng ông luôn sống mãi trong nỗi nhớ thương của đồng đội và nhân dân.


Giọt nước mắt trong căn hầm chữ A

Anh Đinh Văn Ba, hiện là Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc, Bí thư Đảng uỷ Công ty Cổ phần xe khách và dịch vụ Thương mại Đà Nẵng, người còn lại duy nhất của gia đình liệt sĩ Đinh Châu bồi hồi khi kể cho chúng tôi nghe về cha, mẹ và người anh thân yêu của mình. Mới hiểu được vì sao gương mặt người đàn ông này lúc nào cũng phảng phất nổi buồn dù đã thành đạt trong cuộc sống.

“Đầu năm 1964, khi tôi mới lên 10, ba tôi về thăm nhà sau thời gian dài công tác xa. Cả nhà quây quần trong cảnh quê hương điêu tàn bởi tội ác Mỹ- nguỵ. Lúc này, ông nội tôi là Chủ tịch uỷ ban kháng chiến của xã đã hy sinh, bà nội mất, các chú đều đã thoát ly (sau ngày hai người chú là liệt sĩ). Ba bảo tôi và anh Lưu đi theo ba. Mẹ ở căn cứ vài ngày, chăm sóc mấy cha con rồi về vì bà là cán bộ phụ nữ xã, không thể bỏ phong trào mà đi. Nhớ buổi chia tay, bình thường mẹ rất cứng cỏi, vậy mà bây giờ nước mắt vòng quanh. Hình như bà linh tính điều dữ nào đó sẽ ập đến gia đình mình. Tôi nhìn theo bóng mẹ với chiếc áo bà ba đen khuất dần.

Quả thực tôi không muốn xa mẹ, nhưng tôi nghe theo lời tâm huyết của cha: Con phải ra miền Bắc học tập, đây không phải việc của ba, của con mà là việc của nước non, Tổ quốc. Tôi đồng ý lên núi nhưng vẫn chần chừ không ra miền Bắc. Tôi sống cùng các cô chú, còn ba vẫn biền biệt công tác. Một đêm cuối tháng 7 năm 1967, tại xã Lộc Sơn vùng B, Đại Lộc, tôi được gặp cha tôi trong căn hầm chữ A. Cả hai ôm chầm thổn thức. Ba lại nhắc tôi lời nói ngày nào: “Đây không phải việc của ba và con...”. Tôi gật đầu nghe theo. Ba và các cô chú đã chuẩn bị cho tôi đủ thứ để tôi lên đường. Ba tặng tôi chiếc võng dù mà tôi đã giữ mãi bên mình. Sau này tôi nghiệm ra ba tôi lường trước sự ác liệt của chiến trường nên đã chuẩn bị cho tôi một cuộc sống mới.


Ba tháng vượt Trường Sơn, tôi đặt chân lên miền Bắc XHCN, trong lúc đó chiến trường miền Nam sục sôi đánh Mỹ. Chưa được bao lâu trong 2 năm 1967, 1968, tin chồng lên tin như sét đánh ngang tai: mẹ tôi đã anh dũng hy sinh tại quê nhà. Anh Đinh Lưu, chiến sĩ thông tin cũng đã hy sinh trong một trận đánh. Ba hy sinh ở mặt trận Đà Nẵng, khi đang chỉ huy một cánh quân. Tuy nhiên tôi vẫn cố tin rằng, có sự nhầm lẫn nào đó, chứ ba tôi không thể chết. Đầu năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, thôi thúc tôi dừng chân không đi học nước ngoài để tìm gặp ba và những người thân trong gia đình. Khi biết tất cả tin báo đều là sự thật, tôi như gục ngã.

Tôi nhớ cảnh chia ly trong đêm mưa phùn năm nào, nhớ giọt nước mắt của mẹ, lời dặn dò gan ruột của ba. Buổi trùng phùng của gia đình đâu còn nữa như lời hẹn ước. Ngỡ như không còn đủ sức để đi tiếp trên con đường học vấn của mình, nhưng rồi truyền thống gia đình, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, dòng tộc, cô bác ruột thịt đã nâng đỡ tôi dậy. Tôi đã học tiếp đại học Bách khoa.

Anh Ba dừng câu chuyện và đốt nén hương trên bàn thờ cha mình. Tôi nghĩ, anh đã xứng đáng là con trai của người anh hùng và của đại gia đình anh hùng.

Hồng Vân




»»  Đọc tiếp

6 tháng 12, 2010

Tin vắn

Đăng ngày Thứ Hai, tháng 12 06, 2010 bởi Phạm Đạo · 0 comments

Tiếp nhận sắc phong của dòng tộc họ Phạm ở Quảng Bình


TT - Cục Văn thư - lưu trữ nhà nước (Bộ Nội vụ) vừa tiếp nhận 15 sắc phong của dòng tộc họ Phạm ở thôn Trung, xã Võ Ninh (Quảng Ninh, Quảng Bình) trao tặng.

Số sắc phong này do các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Khải Định ban cho ông Phạm Sỹ và gia đình, được ông Phạm Văn Khôi (là cháu đời thứ sáu của quan chưởng vệ Phạm Sỹ, đã có công giữ yên bờ cõi) lưu giữ.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ cũng đã trao tặng kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp văn thư - lưu trữ” cho ông Phạm Văn Khôi, đại diện dòng họ Phạm, nhằm ghi nhận và tôn vinh các cá nhân, gia đình và dòng họ có nhiều đóng góp cho việc sưu tầm tài liệu quý hiếm.

L.GIANG
»»  Đọc tiếp

24 tháng 11, 2010

Về câu đối của Vũ Phạm Hàm

Đăng ngày Thứ Tư, tháng 11 24, 2010 bởi Phạm Đạo · 0 comments

VỀ ĐÔI CÂU ĐỐI CỦA TAM NGUYÊN VŨ PHẠM HÀM
Ở ĐỀN KIẾP BẠC VÀ ĐỀN THỜ TRẦN HƯNG ĐẠO-SAIGON 

Ông Phạm Vũ Động, người sưu tầm(ảnh bên)

Nhân ngày Giỗ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn vào ngày 20-8 âm lịch (nhằm vào ngày 27/9/2010) vừa qua, Đền Kiếp Bạc (xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, Hải Dương), Đền Bảo Lộc (ngoại thành Nam Định) và Đền thờ Trần Hưng Đạo tại Tp HCM đều tổ chức trọng thể ngày Giỗ của vị anh hùng kiệt xuất của dân tộc trong sự nghiệp đánh đuổi quân xâm lược Nguyên – Mông ở thế kỷ 13, người đã có công góp phần làm rạng rỡ cho lịch sử oai hùng của nước nhà. Cuộc đời của Trần Hưng Đạo gắn liền với toàn bộ chặng đường vinh quang nhất của triều Trần. Trong suốt cả chặng đường đó, Trần Hưng Đạo đã có hàng loạt những cống hiến to lớn, trải rộng trên nhiều lãnh vực khác nhau. Tên tuổi của Trần Hưng Đạo mãi mãi là niềm tự hào bất diệt của chúng ta.

Để tưởng nhớ công ơn của người, Đền thờ Trần Hưng Đạo tọa lạc ở số 36 đường Hiền Vương - Saigon (nay là Võ thị Sáu) cùng hai đền thờ Trần Hưng Đạo nổi tiếng nhất và cũng lâu đời nhất ở miền Bắc là đền Kiếp Bạc và đền Bảo Lộc năm nào cũng tổ chức Lễ hội kỷ niệm Trần Hưng Đạo nhân ngày Giỗ cùa người một cách hết sức trọng thể và linh thiêng.

ĐỀN THỜ TRẦN HƯNG ĐẠO TẠI TP. HCM. 

Khu đền thờ Trần Hưng Đạo ngày nay vốn xưa là đất chùa Vạn An. Chùa Vạn An tuy nhỏ, nhưng cũng là một trong những ngôi chùa được khá nhiều khách thập phương tới viếng. Từ năm 1932, đền thờ Trần Hưng Đạo mới được dựng lên ở sát ngay cạnh chùa Vạn An, lúc đầu, đền chỉ có quy mô nhỏ, kiến trúc đơn sơ. Đến năm 1958,cả chùa lẫn đền cũ đều bị phá bỏ, và thay vào đó, đền thờ Trần Hưng Đạo khang trang hơn, to lớn hơn, kiến thiết công phu hơn. . .đã được dựng lên. Từ năm 1958 đến nay, đền thờ Trần Hưng Đạo tuy có được tu bổ thêm nhiều lần, nhưng nhìn chung, cả vóc dáng lẫn đường nét căn bản của kiến trúc cũ vẫn được giữ nguyên.

Đền có hai cổng. Cổng chính chỉ mở vào những ngày rằm, ngày 30 âm lịch hang tháng, hoặc những ngày lễ lớn trong năm; cổng phụ mở thường xuyên để đón khách tới lễ đền và viếng đền.

Phía trên Cổng chính có khắc 4 chữ Hán cỡ lớn: HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG. Ở mặt ngoài cùa 2 cột Cổng chính, có đôi câu đối chữ Hán như sau:

- Liệt liệt oanh oanh, miễn hoài vĩ tích quan Trần sử
- Dương dương hách, cảnh ngưỡng linh quang nhập miếu môn

Nghĩa là :

- Xem sử nhà Trần nhớ mãi những chiến tích oanh liệt tích tụ lại
- Vào của miếu, thấy ánh sáng linh thiêng tỏa rạng ra.

Mặt trong của 2 cột Cổng chính cũng có đôi câu đối chữ Hán:

- Vì Châu Cơ tể, vì Hán Lưu hầu, võ lược văn hung bình họa loạn
- Tại thiên nhật tinh, tại địa hà nhạc, hung phong chính khí trấn bang ky

Nghĩa là :

- Làm như những bậc tể phụ của họ Cơ (dòng họ quý tộc} của nhà Chu, làm như những bậc công hầu của họ Lưu đời Hán, võ giỏi, văn tài, dẹp yên loạn lạc,
- Như mặt trời và tinh tú trên không trung, như con sông lớn, như ngọc núi cao trên mặt đất, oai lớn, đức dày, trấn yên bờ cõi.

Trong khuôn viên rộng chừng 2000m2, sân đền chiếm một phần diện tích lớn, nên đền có vẽ thoáng mát và rộng rãi. Sân đền lót gạch men màu nâu, thuận tiện cho việc tụ tập đông người trong những ngày lễ lớn cùa đền. Ngay ở đầu sân, là bức tượng Trần Hưng Đạo, tuy không lớn lắm nhưng rất uy nghi. Tượng đúc bằng xi- măng, tô màu đen pha vàng, được dựng lên vào cuối năm 1972.


Đền thờ có cấu trúc hình chữ đinh (T), diện tích khoảng 250 m2 và có 3 cửa liền nhau. Phía trên 3 cửa này có hang chữ Hán :

Hiển thánh Trần triều Hưng Đạo Đại Vương linh từ ( Đền thờ của bậc hiển thánh linh thiêng là Hưng Đạo Đại Vương, người triều Trần).

Ở trước bàn hương án có 2 con nghe ngồi chầu, mỗi con ngậm một cái xương sườn cá voi cong vút lên, tạo thành một hình vòng cung, trông rất uy nghi. Sau bàn hương án là nơi thờ các vị anh hùng hào kiệt đời Trần, đã có công với nước như: Trần Quang Khải, TRần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng. Phía trên hương án là bức hoành phi với hang chữ Hán: “Trần triều hiển thánh” (các vị hiển thánh triều Trần).

Hai bên hương án có hai hang cờ quạt, tàn lọng, đồ bát bửu, đồ lễ bộ, ngựa hồng, ngựa bạch. . .Dọc theo hai cột ở hai bên hương án có đôi câu đối:


- Nam Bộ nhất sơ tân miếu vũ
- Đông Á tam thế cựu huân thần

Nghĩa là:
- Nam Bộ, một tòa miếu mới xây
- Triều Trần, ba đời người tôi cũ có nhiều công lao.
Nơi thờ chính của đền là Nội điện- nằm ở phía trong. Ở đây có tượng Trần Hưng Đạo bằng đồng, được đúc ở thế ngồi trên long ỷ, tay cầm quyển binh thư, thanh kiếm bạc dựng một bên. Phía trái là nơi thờ 2 vị nương cô (tức 1 con gái đẻ và 1 con gái nuôi cùa người). Phía phải là nơi thờ 4 vị vương tử (4 con trai cùa người). Phía trên bức tượng là bức hoành phi, giữa có thêu mấy chữ Hán: “Nam quốc cơ công” (công trạng xây dựng nền móng nước Nam)

Trên nền hoành phi và câu đối là những hoa văn: long phụng tương trình, long thăng long giáng, lưỡng long tranh châu, lưỡng long chầu nguyệt. . .Trên các vách của đền là hang loạt những bức phù điêu sơn son thếp vàng và chạm trổ công phu, diễn tạ những sự kiện lớn của lịch sử thời Trần như: Hội nghị Diên Hồng, lời thề song Hóa, trận Bạch Đằng. . .Đó là chưa kể đến một số bản đồ, nguyên văn (bản dịch) bài Hịch Tướng sĩ cùng các lời khuyên chân tình mà sâu sắc của Trần Hưng Đạo đối với vua Trần và kế sách giữ nước, trước khi Trần Hưng Đạo qua đời.

Đặc biệt mặt trước của Cửa chính dẫn vào Đền thờ Trần Hưng Đạo tại Tp.HCM có đôi câu đối chữ Hán:
- Van Kiếp hữu sơn giai kiếm khí
- Lục Đầu vô thủy bất THU THANH
(Vạn Kiếp núi sông hơi kiếm tỏa
Lục Đầu sông nước tiếng Thu reo! )

VỀ ĐÔI CÂU ĐỐI CỦA TAM NGUYÊN VŨ PHẠM HÀM

Đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo (1226-1300) ở xã Vạn kiếp, nay là xã Hưng Đạo, huyện Chí linh, Hải dương. Đền có một số bức hoành phi và câu đối biểu thị lòng thương tiếc và ca ngợi công lao của người anh hùng dân tộc đã nhiều phen đánh tan quân Nguyên xâm lược, bảo vệ vững chắc non sông Đại Việt. Ai đã đến tham quan đền Kiếp Bạc hẳn còn nhớ đôi câu đối dẫn, được khắc tại cổng tam quan đền, của Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm (Phạm Vũ Hàm) :


“Vạn Kiếp hữu sơn giai Kiếm khí
Lục Đầu vô thủy bất THU THANH”

Đôi câu đối dẫn ngắn gọn, cô đọng, nhưng đã thể hiện được khí phách oai hùng của những trận chiến chống quân Nguyên xâm lược trong lịch sử xa xưa của dân tộc vẫn còn vang vọng mãi đến tận hôm nay làm cho chúng ta thêm tự hào và phấn chấn.

Tuy nhien về mặt chữ nghĩa của đôi câu đối cũng đã có không ít cuộc tranh luận trên mặt báo. Chỉ kể từ năm 1992 đến nay, chữ “thu thanh´ trong đôi câu đối đã được nhiều người đề cập đến trên nhiều tạp chí.

- Trước đó vào những năm 1960 của thế kỷ trước, không biết nhà văn Lãng Nhân Phùng tất Đắc đã căn cứ vào nguồn tư liệu nào mà đổi chữ “thu thanh” thành “trang thanh” (tiếng đóng cọc). Năm 1987, Nguyễn Quảng Tuân cũng đề nghị chữa lại chữ “Thu thanh” thành ‘thung thanh”, ông cho rằng đã ghi nhầm chữ “thung” ra chữ “thu”. Năm 1995 Hoàng hữu Xứng cũng đồng ý với nhận xét trên và tỏ ra bức xúc. Năm 2001, nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn tiến Đoàn ở Thái bình thì lại cho rằng chữ “thu” ở đây phải có “bộ khẩu” bên cạnh với nghĩa là tiếng trẻ con (!)

- Theo nhà thư pháp học Thế Anh, những lập luận trên đây xem ra vẫn thiếu cơ sở khoa học và không đủ sức thuyết phục. Đôi câu đối này đã xuất hiện từ những năm đầu của thế kỷ 20, lúc đó còn nhiều nhà khoa bảng, nhiều bậc túc nho, nên không thể có chuyện nhầm lẫn, sơ xuất “chữ tác đánh chữ tộ” để chữ nghĩa sai ở nơi thắng tích như đền Kiếp Bạc ( Còn ngày nay thì khác, ngay ở trung tâm thủ đô như đền Ngọc Sơn hoặc Văn Miếu-Quốc tử giám vẫn có những đôi câu đối xếp ngược). Chúng tôi đồng tình với cách giải thích của nhà Hán học lão thành Tảo Trang Vũ tuân Sán trong bài “Lai bàn về “thu thanh” hay “trang thanh” (Tạp chí Hán Nôm số 2/13-1992) và bài “Kiếm khí” “thu thanh” của PGS Sử học Tạ Ngọc trên Tuần báo Văn Nghệ số 387 ngày 17-09-2000. Chúng tôi xin trích dẫn lời giải thích của cụ Tảo Trang :

“Thu thanh” không nên hiểu là tiếng thu đơn thuần. Theo triết học cổ truyền phương đông, mùa thu thuộc hành kim trong ngũ hành tương ứng với phương tây. Mùa thu là mùa lá cây vàng úa, có sương giáng, có gió tây khiến lá rụng, đó là quy luật nghiêm khắc của tạo hóa loại trừ những thứ không còn sự sống. “Tiếng thu” là tiếng gió tây làm rụng lá vàng, ý nghĩa đặc biệt của nó được ghi ở bài phú nổi tiếng: “Thu thanh phú” (Phú tiếng thu) của Âu Dương Tu (1007-1972) đời Tống, trong đó có câu: “Thu là vị quan thi hành hình phạt. . .Đó là sức mạnh đạo nghĩa của trời đất, thường dụng tâm nghiêm khắc diệt trừ”

Xét theo ý nghĩa trên đây thì “thu thanh” trong đôi câu đối trên không phải là tiếng thu đơn thuần ở bất cứ con sông nào cũng có mà nó chỉ xuất hiện ở nơi xảy ra trận chiến như sông Lục Đầu chẳng hạn. Chữ “thu” ở đây cũng không phải để nói về mùa thu cụ thể mà có thể chỉ bất cứ thời gian nào trong năm khi xảy ra cuộc chiến. Trong “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn có câu “Tây phong minh tiên xuất Vị kiều” mà Đoàn Thị Điểm dịch là “Thét roi cầu Vị ào ào gió thu”. “Tây phong” mà dịch là “gió thu” là một sự vận dụng điển cố có liên quan đến chữ “thu” đang đề cập đến trên đây.

- Theo PGS.TS. Nguyễn Minh Tường (Viện Sử học), đôi câu đối của Thám hoa Vũ Phạm Hàm (Phạm Vũ Hàm) có nghĩa bóng muốn nhắc tới võ công giết giặc Nguyên-Mông xâm lược của Đức Thánh Trần ở thế kỷ 13, gần đây có người muốn đổi chữ “Thu” làm chữ “Thung” (cái cọc gỗ), vì vậy từ “Thu thanh” sẽ thành ‘thung thanh’ (tiếng đóng cọc gỗ). Tôi thiết nghĩ đó không còn là chữ nghĩa của bậc đại khoa như cụ Thám Hàm nữa!

- Hoàng Thúc Trâm trong sách “Trần Hưng Đạo” viết: Khoảng năm 1945 (gần 40 năm sau khi Vũ Phạm Hàm mất) một nhà báo Nhật Bản đến thăm đền Kiếp Bạc, cảm xúc trước đôi câu đối cùa người quá cố, đã viết:

Thanh kỳ biệt hữu thử giang sơn, Sản xuất anh hùng biểu thế gian.
Kiếm khí do binh hồ lỗ phách, Thu thanh túc sái thủy sàn sàn.
Nghĩa là: Ở đây riêng có cảnh núi sông thanh kỳ này, chung đúc nên trang anh hùng làm tiêu biểu cho thế gian. Hơi thanh kiếm (của ngài) làm giặc Nguyên-Mông phải kinh hồn mất vía, tiếng mùa Thu vi vút lạnh lùng, nước (Lục Đầu) ào ạt vang xa!
Hẳn là hơi của thanh kiếm đời Trần, tiếng của mùa Thu đã được người nước ngoài cảm xúc. Hai câu đối phảng phất nét tâm linh với cái nhìn giác quan thứ sáu của Vũ Phạm Hàm đã vang vọng ra nước ngoài.

TÓM LẠI, chữ “thu thanh” trong đôi câu đối của Tam nguyên Vũ Phạm Hàm (Phạm Vũ Hàm) cúng ở đền Kiếp Bạc và được ghi lại ở đền thờ Trần Hưng Đạo tại TpHCM là có xuất xứ từ điển cố. Phổ biến hơn là cho chữ “Thu thanh” của Vũ Phạm Hàm, theo quan điểm chính thức của Viện Hán Nôm như sau:

- Nguyễn Khắc Bảo, trong Thông báo Hán Nôm năm 1998 cho rằng từ “Thu thanh” trong câu đối thì “Thu” là mùa thu, với nghĩa hàm xúc là để chỉ chiến tranh và đau thương tang tóc, như các vị Trần Thái Tông, Trương Hán Siêu, Nguyễn Du đã ghi trong thơ của mình. “Thu thanh” là tiếng mùa thu, trừu tượng, nếu đối với “Kiếm khí” (hơi kiếm) cũng là trừu tượng, là những dạng phi vật chất mà ta chỉ có thể cảm nhận được bằng linh cảm là rất hợp, rất chỉnh.

PHẠM VŨ (Tham khảo: -Sách “Trần Hưng Đạo” NXB Trẻ-1987
-Sách “Vũ Phạm Hàm” NXB Văn hóa Thông tin-Hà Nội ,2009 in xong quý II-2010)
»»  Đọc tiếp

Phạm Đăng Trí - Nhà giáo, hoạ sĩ tiêu biểu của Huế

Đăng ngày Thứ Tư, tháng 11 24, 2010 bởi Phạm Đạo · 1 comments

Phạm Đăng Trí
Nhà giáo - hoạ sĩ tiêu biểu của Huế

Họa sĩ Phạm Đăng Trí (ảnh bên)

Phạm Đăng Trí (1920-1987) là hậu duệ cuả Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng. Nguyên quán Gò Công nhưng ông sinh ra, lớn lên, lập nghiệp tại Huế. Tốt nghiệp trường Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội năm 1942 ông trở về Huế hành nghề giáo viên - giảng viên hội họa của các trường trung học, rồi trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế.
Danh thần Phạm Đăng Hưng từng giữ chức Thượng thư bộ Lễ, Tổng tài Quốc sử quán dưới các triều Gia Long, Minh Mạng. Ông mất năm 1825, được tặng tước Vinh Lộc Đại Phu, Trụ quốc Hiệp biện đại học sĩ, thụy Trung Nhã. Vua Tự Đức phong tặng ông là Đặc tấn Vinh lộc đại phu, Thái bảo, Cần chánh điện đại học sĩ, tước Đức Quốc Công. Con gái của ông, bà Phạm Thị Hằng, là vợ vua Thiệu Trị, đời Tự Đức được tấn phong Từ Dũ Hoàng thái hậu.
Phạm Đăng Trí là một hoạ sĩ tài danh và chuẩn mực. Nhưng cũng có người nói tính cách, lối sống của ông nghiêng về tư chất của một nhà giáo nhân ái, tận tình với học sinh. Thực ra ông có cả hai. Đó là nhờ sinh trưởng trong một gia đình có nề nếp gia phong, các thế hệ con cháu có ý thức gìn giữ nếp nhà do tiên tổ truyền thừa.
Ông là một trong những gương mặt đặc biệt của đất Thần Kinh. Một nhà giáo - nghệ sĩ “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”, một bậc thầy về tranh lụa và giấy dó.
Suốt một đời dạy học, đồng hành với cuộc đời lao động nghệ thuật, nhưng tác phẩm của Phạm Đăng Trí để lại không nhiều. Đa phần tác phẩm không lưu hành ngoài thị trường, do quan niệm của ông về lao động nghệ thuật. Tại ngôi nhà của ông nay chỉ lưu giữ, trưng bày khoảng 40 bức tranh, trong đó có 8 bức sơn dầu, còn lại là lụa và giấy dó, tranh khổ lớn trên 1m2 chiếm khoảng 1/2.
Lý do rất đơn giản và rõ ràng: Quý hồ tinh bất quý hồ đa. Ông vẽ tranh thường xuyên, nhưng rất kỹ lưỡng, chỉn chu, bức nào không vừa ý thì hủy ngay. Với ông, tác phẩm nghệ thuật không có loại thứ phẩm. Người thân, học trò của ông kể lại: Để có được một bức tranh lớn hơn 1m2 ông phải mất vài tháng trời cho công việc xử lý chất liệu và miệt mài bên giá vẽ. Suốt cuộc đời cầm cọ ông vẽ khoảng 100 bức, hủy bỏ khoảng 20 bức, giữ lại khoảng 80 bức. Năm 1968, khi đang triển lãm tại tư gia thì bị bom Mỹ đánh sập 1/2 nhà phía trước, mấy chục bức tranh bị tiêu huỷ cùng lúc.
Các thế hệ học trò của Phạm Đăng Trí kể lại rằng: Ông quan niệm vẽ tranh là vẻ cho mình, không vẽ vì danh và lợi. Tiến sĩ - bác sĩ Phạm Đăng Nhật, thứ nam của ông, kể rằng ông cụ tuyệt đối không bán tranh, con cái sau này cũng cố gắng gìn giữ, bảo quản. Cũng theo anh Nhật, chỉ có khoảng 2-3 bức hiện đang lưu hành bên châu Âu. Đó là do sinh thời ông cụ tặng bạn bè, sau ngày ông qua đời, tranh được giá nên họ bán ra, rày đây mai đó trên thị trường tranh. 1 bức do một bảo tàng mượn đi triển lãm bên Bungary thời bao cấp, sau đó bán luôn, cầm về đưa cho gia đình 20 đồng.
Sau khi hoạ sĩ Phạm Đăng Trí qua đời, nhiều nhà sưu tập tranh, trong đó có vài nhà sưu tập người Nhật, vốn đã theo sự nghiệp của ông Trí từ mấy chục năm trước, tìm đến đặt vấn đề với gia đình xin mua, nhưng vợ và các con ông nhất định không bán bức nào cả.
Bức Trận sông Hát, tranh lụa, cỡ 79 x 64cm, Phạm Đăng Trí vẽ cảnh Hai Bà Trưng cỡi voi ra trận đánh giặc là một hiện tượng đặc biệt. Bức này vẽ năm 1975, vài năm sau có một nhà sưu tập người Nhật nhiều lần tìm đến nhà xin được mua, và đã ra giá lên tới 70 cây vàng, nhưng Phạm Đăng Trí không bán. Ông chỉ đồng ý cho nhà sưu tập này chụp hình ông với bức tranh, rồi ghi âm cuộc trò chuyện giữa hai người.
Đó là hiện tượng tranh trên thương trường. Trong nghệ thuật đích thực Phạm Đăng Trí nổi tiếng với tác phẩm Người suối bạc, tranh giấy dó, cỡ 54 x 100cm, vẽ từ năm 1945. Đó là một thiếu nữ đẹp đang nằm trên giường bệnh, sắp sửa qua đời, nhưng người xem có cảm giác như nàng đang nằm ngủ, một giấc ngủ bình yên trong cõi thiên thu.
Về nghiên cứu mỹ thuật Huế, từ sự am hiểu chất liệu và sự nghiêm cẩn trong sáng tác của người hoạ sĩ chuẩn mực, Phạm Đăng Trí đã phân tích và xác lập ra hệ ngũ sắc dân gian riêng của Huế, gồm 5 màu Đỏ - Vàng - Tím - Lục - Xanh. Khác với hệ ngũ sắc chính thống của phương Đông là Đỏ - Vàng - Xanh - Trắng - Đen.
Theo Phạm Đăng Trí, trong hệ ngũ sắc Huế thì màu Tím là trung gian giữa màu nóng và màu lạnh – và trong từng cặp màu tương phản có khả năng tạo ra ấn tượng làm dịu mắt. Trong thực tế màu Tím Huế không gây cảm xúc buồn, mà gợi một niềm vui trong sáng và thầm kín. Có lẽ đó là lý do Tím Huế được chọn làm màu áo dài truyền thống của nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa?
Sau ngày hoạ sĩ Phạm Đăng Trí qua đời, gia đình có tổ chức triển lãm tranh hai lần để kỷ niệm về ông. Một lần tại nhà riêng, một lần ở Bảo tàng Hồ Chí Minh. Tư gia của hoạ sĩ Phạm Đăng Trí ở đường Phan Đăng Lưu, gần chợ Đông Ba, như là một nhà bảo tàng nghệ thuật mi ni của Huế, một phòng trưng bày bộ sưu tập tranh cá nhân vẫn thường đón tiếp khách tri kỷ của chủ nhân và khách vãng lai đến thưởng lãm.

Phạm Hữu Thanh Tùng



»»  Đọc tiếp

19 tháng 11, 2010

Chúc mừng các NGND và NGUT họ Phạm

Đăng ngày Thứ Sáu, tháng 11 19, 2010 bởi Phạm Đạo · 0 comments

NGƯỜI HỌ PHẠM ĐƯỢC PHONG TẶNG DANH HIỆU NHÀ GIÁO NHÂN DÂN, NHÀ GIÁO ƯU TÚ

Lời BBT: Nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11, một tin vui đến với dòng họ chúng ta là đầu tháng 11 nhà nước đã vinh danh trên một trăm Nhà giáo Nhân dân(NGND) và trên một ngàn Nhà Giáo Ưu tú (NGUT) trong đó có gần mười NGND và trên năm mươi NGUT họ Phạm. Chúng ta nhiệt liệt chú mừng các vị ấy. Chúng tôi xin đăng bảng thống kế của ông Phạm Đình Điểu, Phó Tổng thư kí BLL họ phạm Việt Nam để bà con đông tộc được biết.

Ngày 9/11/2010, Chủ tịch nước đã ký quyết định số 1917/QĐ/CTN phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân cho 132 nhà giáo (trong đó có 8 người họ Phạm) và quyết định số 1916/QĐ/CTN phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú cho 1062 nhà giáo (trong đó có 53 người họ Phạm) đã có nhiều cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp Giáo dục của đất nước.

DANH HIỆU NHÀ GIÁO NHÂN DÂN HỌ PHẠM

1. TS Phạm Ngọc Anh - Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp 2. PGS.TS Phạm Huy Chương - Giảng viên Học viện Kỹ thuật quân sự 3. Bà Phạm Minh Phương - Nguyên Chủ nhiệm Khoa múa dân gian dân tộc 4. GS.TS Phạm Minh Khang - Nguyên Chủ nhiệm Khoa Lý luận - Sáng tác - Chỉ huy, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam 5. GS.TS Phạm Lương Tuệ - Nguyên Giảng viên Bộ môn Công nghệ nhiệt, khoa Năng lượng, Trường ĐH Bách khoa Hà Nội 6. GS.TS Phạm Hữu Tòng - Nguyên Phó Trưởng khoa Vật Lý Trường Đại học Sư phạm HN 7. GS.VS Phạm Minh Hạc - Nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo 8. PGS.TS Phạm Gia Văn - Nguyên chủ nhiệm bộ môn Giải phẫu, Học viện Quân y

DANH HIỆU NHÀ GIÁO ƯU TÚ HỌ PHẠM

1. PGS.TS Phạm Bình Quyền - Nguyên Giảng viên cao cấp khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
2. PGS.TS Phạm Văn Liên - Trưởng Ban Quản lý đào tạo, Học viện Tài chính, Bộ Tài chính
3. PGS.TS Phạm Ngọc Dũng - Trưởng Ban Quản lý đào tạo, Học viện Tài chính, Bộ Tài chính
4. TS Phạm Thị Thắng - Trưởng bộ môn kinh tế lượng, Học viện Tài chính, Bộ Tài chính
5. PGS.TS Phạm Xuân Hằng - Chủ nhiệm khoa Khoa học Quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
6. GS. TS Phạm Hồng Thái - Chủ nhiệm khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
7. PGS.TS Phạm Văn Nhiêu - Giảng viên khoa Hóa, Trường ĐHKH Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội
8. PGS.TS Phạm Hảo - Giảng viên Cao cấp, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia HCM 9. TS Phạm Hữu Lộc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp t/p Hồ Chí Minh
10. PGS.TS Phạm Quang Phúc - Trưởng khoa Nghiệp vụ Cảnh sát phòng chống tội phạm hình sự, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân
11. PGS.TS Phạm Văn Đoan – T/p KHCN và MT, Học viện Lục quân, Bộ QP
12. GS.TSKH Phạm Thế Long - Giám đốc Học viện Kỹ thuật quân sự, Bộ Quốc phòng
13. PGS.TS Phạm Đình Nhịn - Phó trưởng phòng Đào tạo, Học viện Chính trị Bộ QP
14. PGS.TS Phạm Văn Thắng - Chủ nhiệm khoa Công tác Đảng, Học viện Chính trị, Bộ QP
15. TS Phạm Văn Điển - Giảng viên chính khoa Lâm học Trường Đại học Lâm nghiệp
16. GS. TS Phạm Minh Tuấn - Viện trưởng Viện Cơ khí Động lực Trường ĐH Bách khoa HN
17. GS. TS Phạm Thu Thủy - Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
18. PGS. TS Phạm Thị Ngọc Yến - Giám đốc TrT Nghiên cứu Quốc tế Đa phương tiện, Truyền thông và Ứng dụng (MICA), Trường ĐH Bách khoa Hà Nội
19. GS. TS Phạm Quang Phan - Giảng viên Khoa Lý luận chính trị, Trường ĐH Kinh tế QD
20. PGS. TS Phạm Hùng Thắng - T/p Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế, ĐH Nha Trang
21. TS Phạm Trọng Toàn - Phó Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương
22. PGS.TS Phạm Xuân Hậu - Viện trưởng Viện NC giáo dục, ĐH Sư phạm T/p HCM
23. PGS. TS Phạm Duy Hoà - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng 24. TS Phạm Văn Tần - Nguyên Chủ nghiệm khoa Kế hoạch và Phát triển, Trường ĐHKTQD
25. PGS. TS Phạm Ngọc Đĩnh - Nguyên Giảng viên khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm HN
26. Ông Phạm Văn Phùng - Phó hiệu trư¬ởng trư¬ờng Cao đẳng xây dựng Nam Định
27. Ông Phạm Văn Chánh - Phó Hiệu trưởng, G/đ phân hiệu phía Nam, Tổng C/ty Đường sắt 28. Ông Phạm Văn Thanh - Hiệu trưởng Trường CĐ Đường sắt, Tổng C/ty Đường sắt Việt Nam
29. Ông Phạm Văn Hùng - PCN khối Chuyên toán ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia HN 30. Ông Phạm Minh Đạo – T/P Quản lý Khoa học, Trường ĐH Kinh tế- Kỹ thuật CN 31. Ông Phạm Ngọc Thụ - Trưởng phòng Khảo thí Kiểm định chất lượng giáo dục Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp
32. Ông Phạm Văn Sinh - Hiệu trưởng trường Trung cấp KT nghiệp vụ Công an nhân dân
33. Ông Phạm Công Lừng - Trưởng phòng ĐT, Trường Trung cấp Biên phòng 1, Bộ QP
34. Ông Phạm Văn Nhi - Chủ nhiệm khoa Y học Cổ truyền, Trường Trung cấp Quân y 2, Quân khu 7, Bộ Quốc phòng
35. Ông Phạm Văn Định - Giảng viên Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam
36. Bà Phạm Thị Minh Khánh - Giảng viên Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
37. Bà Phạm Thị Kim Oanh - Trưởng khoa kinh tế, Trường Cao đẳng Nông lâm Đông Bắc
38. Ông Phạm Văn Nha - Hiệu trưởng trường Cao đẳng Công nghiệp Cao su
39. Ông Phạm Viết Khang - Trưởng Khoa Công nghệ thông tin, Trường Cao Đẳng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bắc Bộ.
40. Bà Phạm Tố Như - Trưởng khoa Sư phạm, Trường Cao đẳng nghề Cơ khí nông nghiệp
41. Bà Phạm Ngọc Thuý - Nguyên T/p Tổ chức Cán bộ, Sở GD& ĐT tỉnh Tuyên Quang 42. Ông Phạm Hồng Việt - Nguyên giảng viên khoa Lịch sử, trường ĐH Sư phạm Huế
43. Ông Phạm Phong Tống - Nguyên Hiệu trưởng Trường TC Quân y 2 Quân khu 7, Bộ QP
44. Ông Phạm Văn Khánh - Nguyên Hiệu trưởng Trường THCS Giảng Võ, Thành phố HN
45. Bà Phạm Thị Mỹ Dung - Hiệu trưởng Trường Mầm non Sao Mai 13, Quận 4, T/p HCM 46. Ông Phạm Văn Trường - Hiệu trưởng Trường THCS Cầu Kiệu, T/p HCM
47. Bà Phạm Thị Đông - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Hoàng Dư Khương, T/p Đà Nẵng
48. Bà Phạm Thị Ngọc Mai - Giáo viên trường Tiểu học Thới Hưng 1, Thành phố Cần Thơ
49. Bà Phạm Thị Minh - Hiệu trường trường Tiểu học Chũ, Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
50. Bà Phạm Minh Tâm - Giáo viên trường THPT Tiên Du 1, tỉnh Bắc Ninh
51. Bà Phạm Thị Tuyết Hải - Phó Hiệu trưởng Trường TH Hùng Vương, thành phố Cà Mau
52. Ông Phạm Văn Nhăm - T/p Giáo dục Tiểu học Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Lắk
53. PGS. TS Phạm Duy Liên - Trưởng khoa Đào tạo bồi dưỡng Tại chức, Trường ĐHNT

Phạm Đình Điểu (Tổng hợp Danh sách trên VietNamNet)
»»  Đọc tiếp

8 tháng 11, 2010

Dây cáp điện chống cháy Thiên Phú

Đăng ngày Thứ Hai, tháng 11 08, 2010 bởi Phạm Đạo · 0 comments

DÂY CÁP ĐIỆN CHỐNG CHÁY THIÊN PHÚ ĐẠT DANH HIỆU “HÀNG VIỆT NAM ĐƯỢC NGƯỜI TIÊU DÙNG THỦ ĐÔ YÊU THÍCH”

LGT: Dây cáp điện chống cháy vừa được giải thưởng “Hàng Việt Nam được người tiêu dùngThủ đô yêu thích” là một trong những sản phẩm của Tập đoàn công nghiệp Thiên Phú do ông Phạm Quang Hoàn làm Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc. Chúng tôi giới thiệu bài viết đăng trênwebsite: Thienphu group cùng với lời chúc mừng thành công của một doanh nhân họ Pham chúng ta - Phạm Thúy Lan

Tối 24/10/2010, tại Trung tâm nghệ thuật Âu Cơ, Hà Nội đã diễn ra đêm hội tôn vinh “Hàng Việt Nam được người thủ đô yêu thích”. Sản phẩm Dây cáp điện chống cháy Thiên Phú của Tập đoàn Công nghiệp Thiên Phú tự hào được vinh danh đạt giải thưởng này.

Đây là chương trình hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt”do Bộ Chính trị phát động. Tham dự buổi lễ trao giải có ông Nguyễn Huy Tưởng Phó chủ tịch UBND TP cùng lãnh đạo một số ban ngành của Thành phố Hà Nội.

Qua hơn 3 tháng khảo sát lấy ý kiến dựa trên các tiêu chí: Sản phẩm có chất lượng cao, giá cả hợp lý, thân thiện với môi trường, đem lại lợi ích trực tiếp cho người tiêu dùng trên địa bàn Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung… Dây cáp điện chống cháy Thiên Phú đã đạt đầy đủ các tiêu chí, được bình chọn là “Hàng Việt Nam được người Thủ đô yêu thích”.

Ông Phạm Quang Hoàn – Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Tập đoàn Công nghiệp Thiên Phú cho biết: Là một doanh nghiệp có uy tín trên thị trường, trước tình hình hỏa hoạn ngày càng gia tăng, Thiên Phú đã đưa ra thị trường sản phẩm Dây cáp điện chống cháy. Nhiều năm nay, người tiêu dùng Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung đã có những đánh giá tốt về chất lượng của sản phẩm. Chúng tôi đã và đang đầu tư thêm công nghệ sản xuất nhằm mang đến cho người tiêu dùng sản phẩm có chất lượng tốt nhất với giá thành hợp lý.
                                  Phạm Quang Hoàn – Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Tập đoàn 
                                  Công nghiệp Thiên Phú (ngoài cùng bên trái) lên nhận giải.

Sản phẩm Dây cáp điện chống cháy Thiên Phú đạt danh hiệu “Hàng Việt Nam được người Thủ đô yêu thích” góp phần nâng cao uy tín cho doanh nghiệp, khẳng định trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng.
»»  Đọc tiếp

28 tháng 10, 2010

Một người họ Phạm được sắc phong

Đăng ngày Thứ Năm, tháng 10 28, 2010 bởi Phạm Đạo · 0 comments

MỘT CÔNG DÂN HỌ PHẠM Ở BÌNH ĐỊNH ĐƯỢC 
VUA BẢO ĐẠI  BAN SẮC PHONG “SỐNG THỌ”.

Ông Phạm Quyền, sinh năm 1846 sinh ờ làng Ngọc Sơn, tổng Dương An, phủ Tuy Phước, tỉnh Bình Định (nay là xóm Ngọc Sơn, thôn Ngọc Thạnh 2, xã Phước An, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định) được vinh dự nhận sắc phong của triều Vua Bảo Đại ban cấp về tuổi thọ. Ông sống thọ đến 96 tuổi và qua đời năm 1942.

Lễ rước sắc được tổ chức long trọng, từ phủ lỵ Tuy Phước, hàng trăm người dân trong làng và con cháu trong làng lũ lượt kiệu, lọng khiêng ông từ nhà về phủ và từ phủ về nhà. Tổ chức cúng tế và hát bộ 3 đêm cho nhàn dân trong làng xem.

                                                                          Sắc phong

LỄ CÔNG BỘ

Vì tuân cấp sự cung chiếu bản niên.
Khôn Nghi Xương Đức Thái Hoàng Thái Hậu thất tuần đại khánh tiết ân chiếu nội nhất khoản thọ dân cửu thập tuế dĩ thượng lượng thưởng hữu sai.
Tư cứ Bình Định tỉnh dị đệ Phạm Quyến quán Tuy Phước phủ, Ngọc Thạnh thôn niên đăng cửu thập tam tức hiệp hành lục cấp gia tương nhứt đạo tu chí tuân cấp giả.
Hữu tuân cấp.
Cửu thập tam tuế thọ dân Phạm Quyền tuân phụng.
Bảo Đại thập nhị niên tam nguyệt thập bát nhật.
Lễ công bộ đại thần Tôn Thất Quảng lục cấp.

Dịch nghĩa

BỘ LỄ CÔNG

Lễ khánh tiết chúc mừng của Hoàng Thái Hậu được bảy mươi ân chiếu người dân sống thọ 90 tuổi trở lên được lượng thưởng.
Nay cứ theo danh sách tỉnh Bình Định có ông Phạm Quyền quán tại thôn Ngọc Thạnh, phủ Tuy Phước số tuổi là chín mươi ba tuổi nên được lượng cấp.
Nay Tuân cấp:
Chín mươi ba tuổi Thọ dân Phạm Quyền Tuân phụng.
Ngày mười tám tháng ba năm Bảo Đại thứ mười hai (18-3 Bảo Đại thứ 12)
Bộ lễ công Đại thần Tôn Thất Quảng lục cấp.

                                                               ảnh minh họa

Lễ rước sắc thọ được tổ chức long trọng từ phủ đường Tuy Phước về Đình làng Ngọc Thạnh sau đó rước về nơi cư ngụ (xóm Ngọc Sơn, thôn Ngọc Thạnh 2, xã Phước An, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định). Chưa có tài liệu để chứng minh ông có làm quan cho triều đình hoặc cho làng trong thời kỳ phong kiến không, nhưng qua cách gọi dân gian của những người lớn tuổi cứ gọi là "ông Bát", hỏi ra nhiều người cho rằng ông Phạm Quyền hàm "bát phẩm". Trải qua biến cố của lịch sử, chiến tranh ác liệt, nhưng sắc phong của cụ ông được người con trai út là Phạm Hải (sinh năm 1900), sau này cháu nội ông là ông Phạm Văn Đỏ (sinh năm 1923) tiếp tục lưu giữ và thờ phụng, coi đó là kỷ vật thiêng liêng của dòng họ.

Hàng năm đến ngày giỗ, chạp, con cháu tụ tề, những câu chuyện kể về đức độ của ông, về việc rèn luyện thể chất,.. được truyền lại cho con cháu muôn đời sau, đó là những câu chuyện kể sống động, truyền cảm và thiêng liêng nhất của dòng họ được truyền tụng, tôn vinh đến muôn đời sau.


Phạm Đình Đôn
BLL tỉnh Bình Định
»»  Đọc tiếp

23 tháng 10, 2010

Người họ Phạm làm trống hội Thăng Long

Đăng ngày Thứ Bảy, tháng 10 23, 2010 bởi Phạm Đạo · 0 comments

NGƯỜI HỌ PHẠM LÀM TRỐNG HỘI THĂNG LONG

Làng Đọi Tam thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam nổi tiếng với nghề làm trống. Đọi Tam nay lại có thêm một sự nổi tiếng nữa, đó là đội trống toàn con gái. Trai làng Đọi Tam làm trống khéo, giỏi; gái làng đánh trống, múa trống đẹp mê li… Hiện cả làng có 14 cơ sở sản xuất khung trống, 13 cơ sở sản xuất da trâu, trên 10 cơ sở làm hoàn chỉnh trống. Các chủ cơ sở phần lớn là người họ Phạm như các Nghệ nhân: Phạm Chí Khang, Phạm Chí Tịnh, Phạm Trí Trung, Phạm Chí Thảo, Phạm Thanh Hùng….

Phạm Chí Khang hai lần làm trống hội Thăng Long
(ảnh bên trái)

Ông Phạm Chí Khang, dáng hình nhỏ nhắn, đôi mắt đăm chiêu, mỗi khi nhắc đến chuyện làm trống, ông lại trở nên nhiệt tình, sôi nổi lạ thường. Cả đời làm trống, hàng ngàn chiếc trống lớn nhỏ đã hoàn thành, trong đó có hai chiếc trống lớn nhất dành để chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Từ năm 14 tuổi ông Khang đã theo cha đạp xe khắp miền Bắc để làm trống. Những nét tinh xảo nhất trong kỹ thuật làm trống như ghép tang, vào đai, bưng mặt hay các công đoạn khó, đòi hỏi sự khéo léo như vẽ rồng, trang trí... ông đều thành thạo.

Năm 1975, gác lại việc làm trống, ông xung phong đi bộ đội. Năm 1981, sau khi phục viên trở về quê hương, ông lại cùng đồ nghề làm trống tiếp tục nghiệp gia truyền. Ông bảo: “Làm trống là nghiệp của làng, không thể bỏ được, dù có khó khăn đến mấy cũng phải làm bằng được để phát triển nghề cha ông”. Suốt mấy đời nay mọi người trong gia đình ông đều nối nghiệp làm trống. Hiện nay, ở làng nghề truyền thống Đọi Tam, họ Phạm của ông là một trong những dòng họ làm trống lớn nhất làng. Người họ Phạm không chỉ phát triển nghề ở quê hương mà còn đem nghề đi khắp nơi trên đất nước. Trong cuộc đời mình ông Khang đã làm rất nhiều loại trống lớn, trong đó có trống Sấm, chào mừng kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội. Hiện chiếc trống có đường kính 2.001 này vẫn được trưng bày tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Những ngày qua, về làng Đọi Tam, đâu đâu cũng thấy không khí náo nhiệt, tưng bừng bởi người dân đang gấp rút làm trống mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Hơn 2.000 chiếc trống lớn nhỏ sẽ được làng hoàn thành để góp thanh âm oai hùng trong dịp Đại lễ.
Trống được làm tại xưởng của gia đình ông Khang; ông là người chịu trách nhiệm chính. Suốt mấy tháng nay, toàn bộ con cháu, dâu rể, anh em và những người thợ giỏi nhất từ khắp nơi về nhà ông tham gia làm trống. Trống có chiều cao 3m, đường kính 2,35m, nặng 1,2 tấn. Để làm chiếc trống này, những nghệ nhân Đọi Tam đã dùng tới 25m3 gỗ mít và 2 con trâu mộng.

Đưa chúng tôi đi thăm chiếc trống đang được khẩn trương hoàn thành, ông Khang cho biết: “Công đoạn khó khăn nhất trong việc làm trống là khâu tìm gỗ làm tang và da trâu làm mặt trống. Gỗ làm tang phải là gỗ mít đặc lõi, nghĩa là phải tìm những cây mít cổ thụ. Để làm được việc này, người làng Đọi Tam đã đi khắp nơi tìm nguyên liệu như Đắk Lắk, Bình Dương, Kon Tum,...”. Da trâu được tuyển chọn từ hai con trâu to, có bộ da dày, đen nhánh, đảm bảo đủ rộng để căng mặt trống. Để dựng thành công chiếc trống này, hơn 20 nghệ nhân và thợ giỏi của làng Đọi Tam phải làm cật lực trong hơn 6 tháng trời mới hoàn thành.

“Đây sẽ là chiếc trống lớn nhất Việt Nam, thậm chí lớn nhất khu vực”, ông Khang khẳng định. Chỉ tay về chiếc trống, ông nói tiếp: “Ban đầu mới nhận tôi cũng lo lắm, công việc khó nhất là tìm được hai con trâu to để có đủ da bưng mặt trống. Đến nay chiếc trống đã hoàn thành hơn 90% khối lượng công việc và sẽ sớm hoàn thiện để chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội”.

Từ ngày 16/9/2010, chiếc trống được trưng bày tại Hoàng thành Thăng Long. Trong dịp Đại lễ sẽ tổ chức lễ khai thanh hoành tráng, góp tiếng trống oai hùng mừng hùng thiêng sông núi. Bên cạnh đó là màn biểu diễn những tiết mục múa trống độc đáo của đội trống nữ truyền thống làng Đọi Tam. Với nụ cười trên môi, ông Khang tâm sự: “Cách đây 10 năm, nhân kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội, tôi đã vinh dự được góp công làm chiếc trống lớn nhất Việt Nam. Nhưng trong thâm tâm, tôi vẫn mong ước làm được một chiếc trống to hơn nữa. Đây là tâm huyết, vinh dự không chỉ của riêng tôi mà của cả dòng họ Phạm, cả làng Đọi Tam”.

Hiện cơ sở sản xuất của ông cũng làm 700 chiếc trống các loại trong tổng số hơn 2.000 chiếc trống mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long. Trong gia đình ông, chỗ nào cũng thấy các loại trống, tất cả chỉ chờ ngày ra mắt chào mừng Đại lễ...

Tiếp nối các nghệ nhân Đọi Tam khi xưa, dù ở làng hay đi lập nghiệp phương xa đều giữ lấy nghề tổ nên nhiều người dân Thủ đô có thể đều biết tiếng cơ sở làm trống của nghệ nhân Phạm Chí Tịnh tại phố Hàng Nón (số Nhà 11B) - một người con của làng trống Đọi Tam - là người trong nhóm nghệ nhân làm ra 100 chiếc trống để dóng lên trong dịp lễ hội kỷ niệm 995 Thăng Long - Hà Nội.

Phạm Đình Điểu Tổng hợp (Báo Quân đội Nhân dân, An ninh Thủ đô)
»»  Đọc tiếp

17 tháng 10, 2010

Hai anh em sinh đôi

Đăng ngày Chủ Nhật, tháng 10 17, 2010 bởi Phạm Đạo · 0 comments

Hai anh em sinh đôi vượt khó vào đại học


Vượt qua hoàn cảnh khó khăn cùng dắt tay nhau vào đại học, hai anh em sinh đôi Phạm Xuân Phước và Phạm Xuân Phương (sinh năm 1992) ở làng Tân Đức, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị nêu lên tấm gương về ý chí và nghị lực cho nhiều bạn trẻ.

Phước và Phương sinh ra và lớn lên trong một gia đình khó khăn với ba thế hệ cùng sống trong mái nhà lụp xụp bên bờ sông Thạch Hãn. Cả gia đình có 8 miệng ăn, chỉ biết trông chờ vào công việc chạy xe ôm của bố và những gánh hàng bột lọc rong của mẹ. Thu nhập của cả hai người chỉ đủ sống tạm qua ngày nhưng những cơn bạo bệnh của ông bà nội làm gia đình khó khăn lại chồng chất khó khăn. Từ năm 2007 đến năm 2008 ông nội của hai em phải vào viện mổ sỏi thận 3 lần. Không lâu sau phẫu thuật, ông phải gánh thêm bệnh nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não, còn bà nội thì bị gai cột sống. Số tiền dành dụm bao năm để xây một ngôi nhà ngói đàng hoàng hơn, giờ cũng đã đổ theo tiền thuốc của ông bà.

Dù hoàn cảnh chật vật và bộn bề khó khăn, nhưng mấy anh em Phước luôn động viên nhau cùng học thật giỏi để bố mẹ yên tâm lao động, kiếm tiền lo cho cuộc sống. Hai anh em Phước và Phương không chỉ giống nhau về ngoại hình mà còn giỏi như nhau trong học tập với bảng thành tích khiến bố mẹ, thầy cô và bạn bè tự hào. Cả Phước và Phương đều là thành viên lớp chọn của Trường THPT Thị Xã Quảng Trị. 12 năm đến trường, hai anh em luôn đạt danh hiệu học sinh giỏi toàn diện và luôn có tên trong danh sách đội tuyển học sinh giỏi của huyện. Kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh năm học 2008 - 2009 Phước đem về cho trường giải ba môn Lý, còn Phương thì “ẵm” về giải nhất môn Toán. Ba năm học cấp ba, hai anh em đèo nhau đến trường trên chiếc xe đạp cà tàng, hư lên hư xuống được bố mua từ năm lớp 8, áo quần đi học một năm mỗi người một bộ, sách học được mấy anh chị hàng xóm mỗi người cho một ít.

Biết gia cảnh khó khăn, hai anh em luôn tâm niệm rằng không học đồng nghĩa với không có tương lai nên lúc nào cũng động viên nhau học tốt. Những lúc học trên lớp Phước và Phương luôn lắng nghe lời giảng của thầy cô, cố gắng hiểu bài ngay tại lớp, về nhà không bao giờ quên làm bài tập và soạn bài đầy đủ. Không có tiền mua sách tham khảo, hai anh em chỉ biết tìm mua sách cũ và mượn bạn phô tô để bổ sung kiến thức.

Kỳ thi tuyển sinh đại học vừa qua, Phước thi đỗ vào ngành Cơ - Điện tử với số điểm là 25, còn Phương thì đạt 24,5 điểm cho ngành Xây dựng dân dụng và Công nghiệp của Trường đại học Bách khoa Đà Nẵng.

Hai con trai cùng đậu đại học, anh Phú và chị Hòa mừng thì ít mà lo thì nhiều, vì không biết lấy đâu ra tiền cho hai con ăn học trong khi ông bà nội thì đang lâm bệnh. Tuy nhiên, nỗi lo của anh Phú, chị Hòa cũng vơi bớt phần nào khi chương trình “Tiếp sức đến trường” của Tỉnh ủy Quảng Trị trao học bổng 4 triệu đồng cho hai anh em Phước và Phương. Có tiền đóng học phí, Phước và Phương hứa với bố mẹ là sẽ cố gắng học tốt và kiếm việc làm thêm để đỡ đần cho gia đình phần nào.

“Vì thương bố mẹ làm lụng vất vả nên chúng em cũng chỉ biết bảo ban nhau học thật giỏi, để sau này kiếm thật nhiều tiền giúp bố mẹ đỡ khổ hơn” - Phước và Phương chia sẻ trong nghẹn ngào.

Phạm Đình Điểu sưu tầm (Báo điện tử Dân trí)
»»  Đọc tiếp

13 tháng 10, 2010

Lễ trao giải thưởng sử học Phạm Thận Duật

Đăng ngày Thứ Tư, tháng 10 13, 2010 bởi Phạm Đạo · 0 comments

LỄ TRAO GIẢI THƯỞNG SỬ HỌC PHẠM THẬN DUẬT
CHO THẠC SĨ VÀ CỬ NHÂN LẦN THỨ NHẤT
TẠI TRƯỜNG ĐAI HOC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Như chúng ta đã biết, năm 2000, nhân dịp kỷ niệm 115 năm ngày mất của danh nhân Phạm Thận Duật, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã cùng với Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật do hậu duệ danh nhân lập, đặt Giải thưởng Sử học Phạm Thận Duật trao cho các Tiến sĩ sử học xuất sắc nhất. Hàng năm, Hội KHLSVN và Quỹ Giải thưởng Sử hoc Phạm Thận Duật thành lập Hội đồng xét Giải thưởng Phạm Thận Duật gồm GS NGND Đinh Xuân Lâm, Phó chủ tịch Hội KHLSVN làm Chủ tịch HĐ, Kỹ sư Phạm Đình Nhân, Chủ tịch Hội đồng Điều hành Quỹ GTSH và một số ủy viên là các chuyên gia về sử học, để đánh giá và xếp hạng các luận án Tiến sĩ đã bảo vệ đạt loại xuất sắc tại các Hội đồng chấm luận án cấp nhà nước. Qua 10 năm với 10 lần trao giải được tổ chức trọng thể tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám vào đúng ngày mất của danh nhân, ngày 29 tháng 11 hàng năm, đã có 49 Tiến sĩ được vinh dự nhận Giải thưởng sử học Phạm Thận Duật, trong đó có 2 giải Nhất, 22 giải Nhì và 25 giải Ba

Hội đồng Điều hành Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật quyết định bắt đầu từ năm nay (2010) sẽ trao tặng Giải thưởng sử học Phạm Thận Duật dành cho các thạc sĩ sử học có luận văn xuất sắc và cho các cử nhân sử học có khóa luận tốt nghệp xuất sắc của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Cho nên, khác với những lần trao giải thưởng sử học Phạm Thận Duật cho các Tiến sĩ sử học xuất sắc nhất trước đây, ngày 28 tháng 9 năm 2010, tại Trường Đại học KHXH&NV, Hội Khoa học Lịch Sử Việt Nam, Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật và Trường Đại học KHXH&NV đã tổ chức Lễ trao Giải thưởng Sử học Phạm Thận Duật cho Thạc sĩ và Cử nhân lần thứ nhất. Năm thạc sĩ và bốn cử nhân của Khoa Lịch sử Trường Đại học KHXH&NV đã được nhận giải thưởng lần này. Đây là lần đầu tiên các Luận văn Thạc sĩ và Khóa luận Đại học về Lịch sử được xét và nhận giải thưởng Sử học Phạm Thận Duật.

Trong 10 năm qua, Khoa Lịch sử Trường Đại học KHXH&NV đã có 11 tiến sĩ được nhận Giải thưởng sử học Phạm Thận Duật, nhiều tiến sĩ vẫn tiếp tục con đường lao động khoa học, đạt nhiều thành tựu về học thuật, có những công trình nghiên cứu mới được công bố trong các hội thảo khoa học trong nước và quốc tế, trong các ấn phẩm trong và ngoài nước. Ts. Nguyễn Văn Kim được nhận giải nhì năm 2000 nay đã được phong Phó Giáo sư, Hiệu phó Trường Đại học KHXH&NV-ĐHQGHN; Tiến sĩ Vũ Quang Hiển được nhận giải ba năm 2000 nay đã được phong Phó Giáo sư.

GS.NGND Đinh Xuân Lâm, Phó Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, các vị lãnh đạo của Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, các vị trong Ban Chủ nhiệm Khoa Lịch sử; đại diện Thường trực Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam đã đến dự và chứng kiến lễ trao Giải thưởng sử học Phạm Thận Duật. Đông đủ các giản viên và sinh viên Khoa Lịch sử đã đến dự Lễ trao giải nhân dịp Khai giảng năm học 2010-2011.

       GS.NGND Đinh Xuân Lâm, Phó Chủ tịch Hội KH Lịch sử; KS. Phạm Đình Nhân, Chủ tịch Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật và 5 thạc sĩ của Khoa Lịch sử Trường ĐH KHXH&NV được nhận Giải thưởng sử học Phạm Thận Duật.

PGS, TSKH Nguyễn Hải Kế , Chủ nhiệm Khoa Lịch sử đã phát biểu khai mạc cuộc gặp mặt sinh viên và mở đầu Chương trình trao Giải thưởng sử học Phạm Thận Duật cho Thạc sĩ và Cử nhân. KS Phạm Đình Nhân, Chủ tịch Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật đã phát biểu giới thiệu về những hoạt động của Quỹ trong hơn 10 năm vừa qua về cả ba mặt hoạt động của Quỹ là Chương trình Giải thưởng sử học Phạm Thận Duật, Chương trình Giải thưởng khuyến học cho học sinh trung học và tiểu học và Chương trình từ thiện-xã hội.

Không khí buổi lễ rất vui vẻ, xúc động, có tác dụng rất tốt trong việc động viên cổ vũ các nhà sử học nói chung, nhất là giảng viên và sinh viên khoa Sử trong việc học tập và nghiên cứu lịch sử để góp phần vào sự nghiệp phát triển của nền sử học nước nhà. Đại diện các Thạc sĩ và cử nhân được giải đã phát biểu ý kiến nói lên lòng biết ơn đối với Giải thưởng Sử học Phạm Thận Duật và nhà trường, hứa sẽ tiếp tục cố gắng hơn trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt các Thạc sĩ được nhận giải thưởng đã trích ra 5 triệu đồng trong phần giải thưởng của mình để tặng cho Quỹ giải thưởng sử học Lê Văn Hưu của Khoa Lịch sử Trường Đại học KHXH&NV, nghĩa cử cao quý đó được mọi người nhiệt liệt hoan nghênh .

    PGS, TSKH Nguyễn Hải Kế, Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học KHXH&NV, Nhà báo Trịnh Thị Liên, Phó Chủ tịch Quỹ giải thưởng Phạm Thận Duật (người đứng giữa) và 4 cử nhân của Trường Đại học KHXH&NV được nhận giải thưởng lịch sử học Phạm Thận Duật.


      PGS, TSKH Nguyễn Hải Kế , Chủ nhiệm Khoa Lịch sử Trường ĐH KHXH&NV cám ơn và tặng hoa KS Phạm Đình Nhân, Chủ tịch Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật.

Phạm Thị Thúy Lan
»»  Đọc tiếp

10 tháng 10, 2010

Công thần họ Phạm trong Thế Miếu triều Nguyễn

Đăng ngày Chủ Nhật, tháng 10 10, 2010 bởi Phạm Đạo · 0 comments

Thế Miếu triều Nguyễn

 Hiển Lâm Các

Công thần họ Phạm trong Thế Miếu triều Nguyễn

Thế Miếu tọa lạc ở góc tây nam bên trong Hoàng thành Huế, là nơi thờ các vị vua triều Nguyễn, nơi triều đình đến cúng tế các vị vua quá cố.

Năm 1804, vua Gia Long cho xây dựng Hoàng Khảo Miếu ở vị trí của Thế Miếu ngày nay để thờ thân phụ là Nguyễn Phúc Luân. Năm 1821 Minh Mạng lên nối ngôi, ông đã cho dời Hoàng Khảo Miếu lùi về phía sau vài chục mét, đổi tên thành Hưng Khảo Miếu và xây Thế Miếu lên vị trí ấy để thờ vua Gia Long và Hoàng hậu. Miếu thờ được xây dựng trong hai năm (1821-1822), ban đầu chỉ dành để thờ Thế Tổ Cao Hoàng đế (vì thế mới có tên gọi Thế Tổ Miếu), về sau trở thành nơi thờ tất cả các vị vua của triều Nguyễn.

Thế Miếu được xây dựng trên mặt bằng rộng 1.500m2, là một tòa nhà kép theo kiểu “trùng thiềm trùng lương”. Tiền doanh Thế Miếu (nhà trước) có 11 gian, chính doanh (nhà sau) có chín gian. Mỗi gian thiết trí một án thờ dành cho một vị vua. Nền Thế Miếu cao, xưa lát gạch men Bát Tràng màu vàng và lục. Qua các lần tu sửa trước năm 1975, nền tiền doanh được lát lại bằng gạch hoa tráng men vàng. Hệ thống cột kèo, đòn tay, liên ba, đố bản, khám thờ, án thờ đều sơn thếp vàng. Nội thất Thế Miếu cho đến năm 1954 chỉ có bảy án thờ, mỗi án một gian, các gian thừa để trống. Ngoài án thờ vua Gia Long và hai Hoàng hậu đặt ở gian giữa, các án thờ của các vị vua còn lại đều được sắp đặt theo nguyên tắc "tả chiêu, hữu mục". Cụ thể: Án tả nhất thờ vua Minh Mạng (1820 - 1840), án hữu nhất thờ vua Thiệu Trị (1841 - 1847), án tả nhị thờ vua Tự Đức (1848 - 1883), án hữu nhị thờ vua Kiến Phúc (1883 - 1884), án tả tam thờ vua Đồng khánh (1886 - 1888), án hữu tam thờ vua Khải Định (1916 - 1925).

Các vua Hàm nghi (1884 - 1885), Thành Thái (1889 - 1907) và Duy Tân (1907 - 1916) bị liệt vào hạng “xuất đế”, vì có tinh thần chống Pháp, nên theo gia pháp không được thờ trong Thế Miếu. Đến tháng 10-1958 ba vị vua ấy mới được Hội đồng trị sự Nguyễn Phước tộc đưa vào thờ chung ở đây. Án thờ vua Hàm Nghi được đặt ở gian tả tứ (gian thứ tư bên trái). Án thờ vua Thành Thái đặt ở gian tả ngũ (gian thứ năm bên trái), còn án thờ vua Duy Tân đặt ở gian hữu tứ (gian thứ tư bên phải). Các án thờ vua Dục Đức, Hiệp Hòa và Bảo Đại đến nay vẫn chưa có mặt trong Thế Tổ Miếu.

Sân Thế Miếu lát gạch Bát Tràng, riêng Thần đạo chạy chính giữa lát đá thanh. Trong sân đặt hai hàng đế bằng đá thanh dùng để cắm tàn mỗi khi tế lễ. Cuối sân là Cửu Đỉnh (chín chiếc đỉnh đồng lớn) đặt thẳng hàng với chín án thờ trong miếu. Tiếp theo Cửu Đỉnh là Hiển Lâm Các, toà nhà ba tầng, hai bên có lầu chuông, lầu trống nối liền với gác bằng một bờ tường gạch. Bên ngoài bờ tường này có hai nhà Tả Vu và Hữu Vu, là nơi phối thờ 13 vị công thần thời Nguyễn. Đó là: Thái sư Hoài quốc công Võ Tánh (?-1801), Thái tử Thái sư Ninh Hòa quận công Ngô Tòng Chu (? - 1801), Thái bảo Lâm Thao quận công Châu Văn Tiếp (? - 1784), Thái bảo Bình Giang quận công Võ Di Nguy (? - 1801), Thái phó Đoan Hùng quận công Nguyễn Văn Trương (? - 1810), Thái phó Tiên Hưng quận công Phạm Văn Nhân (?-1815), Thái phó Kiến Xương quận công Nguyễn Hoàng Đức (? - 1819), Thái tử Thái sư Tuân Nghĩa hầu Tống Phước Đạm (? - 1794), Thiếu bảo Duy Tiên hầu Nguyễn Văn Mẫn (?-1789), Thiếu phó Phụ Dực hầu Đỗ Văn Hựu (?-1789), Thái bảo Kinh Môn quận công Nguyễn Văn Nhân (? - 1822), Thái phó Khoái Châu quận công Nguyễn Đức Xuyên (? - 1824), Thái sư Tuy Thạnh quận công Trương Đăng Quế (1793 - 1865).

Phạm Văn Nhân quê gốc ở Quý huyện (tức huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá), tiên tổ của ông theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá, nhập hộ tịch ở Thừa Thiên. Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát Phạm Văn Nhân đầu quân, sau được thăng cai đội. Khi Nguyễn Phúc Ánh xưng vương ông vào Gia Định phò giá, theo Nguyễn Vương bôn ba khắp lục tỉnh, Phú Quốc, Xiêm La; chinh chiến ra tận Bình Thuận, Thi Nại, Quảng Nam. Ông có công lớn trong tổ chức xây dựng binh thuyền, vận tải quân lương, đánh chiếm Phú Xuân theo đường thuỷ.

Những lúc Nguyễn Vương thân chinh cầm quân chinh chiến Phạm Văn Nhân được giao ở lại giúp Đông cung trấn thủ Gia Định. Khi Hoàng tử Cảnh cầm quân ra trận cũng chính Phạm Văn Nhân đi hộ giá.

Năm Gia Long thứ nhất (1802) Phạm Văn Nhân đem quân vào phối hợp đánh thành Qui Nhơn. Tháng 3 hạ được thành, vua triệu Phạm Văn Nhân về kinh ban áo mũ, thăng Khâm sai chưởng thần, vũ quân, kiêm giám thần sách quân, quận công. Tháng 5 ông lại phò vua Gia Long ra đánh Bắc Hà. Bình định xong Bắc Hà ông theo hầu vua về kinh. Năm Gia Long thứ hai vua đi tuần thú Bắc Hà ông được giao cùng Quốc thúc công Tôn Thất Thăng ở nhà giữ kinh thành. Sau vua lại triệu ông ra trông coi Bắc Thành. Năm Gia Long thứ ba, đại lễ bang giao với Thanh triều, Phạm Văn Nhân được sung làm sứ nhận ấn, rồi theo hầu vua về kinh.

Năm Gia Long thứ năm (1806) Phạm Văn Nhân được vua giao nhiệm vụ chỉ huy xây dựng đàn Nam Giao, năm tiếp theo được giao chỉ huy xây đàn Xã Tắc. Năm 1809 vua đi kinh lý Quảng Nam ông được khâm mạng đi trước nhận đơn, xem xét và tấu trình để vua biết được nỗi lòng của dân. Năm 1811 Phạm Văn Nhân được trao chức Khâm sai chưởng hữu quân, coi cả quân thần sách.

Phạm Văn Nhân mất năm 1815, thọ 71 tuổi, vua thương tiếc, sai đại thần Nguyễn Văn Thành lo việc tang lễ. Theo tấu trình của Bộ Lễ vua cho nghỉ triều ba ngày, ban cho 1.000 quan tiền, đặc tiến Phụ quốc thượng tướng quân, Thượng trụ Thái phó quận công, ban tên thuỵ là Trung Hiếu. Ngày an táng vua lại cho nghỉ triều một ngày, cho hoàng tử, hoàng tôn đưa tiễn, cấp phu trông coi, chăm sóc mộ phần.

Năm Minh Mạng thứ 5 (1824) Phạm Văn Nhân được vua cho thờ phụ trong Thế Tổ Miếu và được thờ ở Trung Hưng công thần miếu, được cấp tự điền.
Trong Đại Nam liệt truyện Phạm Văn Nhân được đánh giá: “Dòng dõi thế gia huân vọng, theo vua cầm cương ngựa, nếm đủ gian khổ, trung thành hết lòng với nước, tuổi già càng gắng sức chăm chỉ việc quân, giúp nên nghiệp lớn, có công rất to”.

Phạm Hữu Thanh Tùng
»»  Đọc tiếp

26 tháng 9, 2010

Lễ tưởng niệm Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm

Đăng ngày Chủ Nhật, tháng 9 26, 2010 bởi Phạm Đạo · 0 comments

LỄ TƯỞNG NIỆM
TAM NGUYÊN THÁM HOA VŨ PHẠM HÀM (1864 – 1906)

                                       Quang cảnh buổi Lễ tưởng niệm Thám Hoa Vũ Phạm Hàm

Hướng tới Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, ngày 11 tháng 9 năm 2010 Lễ tưởng niệm Thám Hoa Vũ Phạm Hàm do Hội khoa học lịch sử Việt Nam. UBND Xã Kim Thư, Hội đồng gia tộc họ Phạm Vũ Đôn Thư đồng tổ chức đã diễn ra một cách long trọng tại quê hương của Người – Làng Đôn Thư, Xã Kim Thư, Huyện Thanh Oai, Thành Phố Hà Nội.

Đây là Lễ tưởng niệm Thám Hoa Vũ Phạm Hàm lần đầu tiên được tổ chức sau hơn một trăm năm Cụ qua đời nên đã thu hút sự chú ý và quan tâm của nhiều tổ chức, nhiều cơ quan Đảng, Chính quyền, Đoàn thể và các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu Hán – Nôm, nghiên cứu Văn học và bà con họ mạc, nhân dân địa phương và bạn bè, người thân gần xa.

Phần đầu là Lễ Dâng hương tại khu lăng mộ của Người tại cánh đồng Làng Đôn Thư. Ngay từ sáng sớm, đại diện Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, đại diện Huyện ủy và UBND Huyện Thanh Oai, đại diện Đảng ủy - UBND xã Kim Thư – Mặt trận Tổ quốc Xã Kim Thư, đại diện Ban liên lạc Họ Phạm Việt Nam và Hà Nội; Hội đồng gia tộc họ Phạm Vũ và hậu duệ cụ Thám cùng các vị khách mời và nhân dân địa phương đã có mặt đông đủ. Đúng 8 giờ sáng trong không khí giữa mùa thu mát mẻ, Lễ dâng hương diễn ra trang nghiêm. Mọi người thành kính lắng nghe “Bài khấn” dâng lên anh linh Người. Bài khấn nêu lên một cách trân trọng công đức của người đối với các lớp thế hệ hậu sinh – hậu duệ và nguyện giữ gìn những truyền thống tốt đẹp các thế hệ ông cha đã xây đắp vun trồng. Mong người được an nghi nơi vĩnh hằng. Các đại biểu, các vị khách cùng con cháu lần lượt dâng hương tưởng niệm người.

Phần tiếp theo, các vị đại biểu, các vị khách quý thăm viếng một số di tích ở địa phương. Mọi người rất xúc động khi đứng trên mảnh đất nơi Người sinh ra và lớn lên (nay đã trở thành Trường mầm non), ngắm nhìn đầm sen xưa cũng như đường Làng, phong cảnh quê hương là những dấu tích lịch sử còn động lại trong thơ văn của Người, Đình Làng, Miếu, Nhà thờ họ và các chi họ vẫn còn lưu nhiều câu đối của Người.

                     Quang cảnh buổi Lễ họp mặt tưởng niệm Thám Hoa Vũ Phạm Hàm

Phần quan trọng nhất đó là Họp mặt Tưởng niệm Thám Hoa Vũ Phạm Hàm. Sau khi thắp hương tại nhà thờ Họ Phạm – Vũ, các đại biểu, các vị khách mời đã họp mặt tại nhà Đại bái. Tại đây được trang trí một cách đơn giản nhưng trang trọng với tấm pano mang dòng chữ:
“HƯỚNG TỚI ĐẠI LỄ 1000 NĂM THĂNG LONG – HÀ NỘI
LỄ TƯỞNG NIỆM TAM NGUYÊN THÁM HOA VŨ PHẠM HÀM
ĐÔN THƯ – KIM THƯ 11 – 9 – 2010”
Bên trái là một tấm thư pháp lớn do nhà thư pháp Nguyễn Thế Anh thể hiện bài thơ “Đối Cúc” của cụ Thám.

Trong khung cảnh đó, các cụ cao niên trong dòng họ với Lễ phục cổ truyền trang trọng đã đón tiếp các vị khách quý. Trên những hàng ghế đầu, cùng với đại diện cơ quan, Đảng, chính quyền và đoàn thể là các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đã có nhiều đóng góp trong việc sưu tầm, dịch thuật, giới thiệu một số tác phẩm của cụ Thám và đã được tập hợp trong cuốn sách “Tam nguyên Thám Hoa Vũ Phạm Hàm” do NXB Văn hóa – thông tin ấn hành đầu năm 2010. Đó là các vị: GS. NGND Đinh Xuân Lâm - Phó chủ tịch Hội khoa học lịch sử Việt Nam; PGS TS Chương Thâu, người tích cực tham gia biên tập cuốn sách; GS NGND Nguyễn Đình Chú nhà nghiên cứu Văn học, GS Phan Văn Các nguyên viện trưởng Viện nghiên cứu Hán – Nôm, Cụ Lê Mỹ Cát người bạn của dân Làng Đôn Thư, là những người rất tâm đắc và để công nhiều năm nghiên cứu về Thám Hoa Vũ Phạm Hàm và nhiều vị khác cũng có mặt.

Trong buổi họp mặt, trước hết là Lời khai mạc và chào mừng của đại diện Đảng, chính quyền địa phương, bài phát biểu của Nhà giáo lão Thành Vũ Phạm Thị Thăng cháu nội cụ Thám. Tiếp đó các nhà nghiên cứu đã nói lên nhiều cảm xúc của mình đối với Cụ qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của Cụ, các nhà nghiên cứu cũng nói lên sự cần thiết phải tiếp tục sưu tầm, dịch thuật, nghiên cứu và giới thiệu các tác phẩm Văn học của Thám Hoa Vũ Phạm Hàm cho đông đảo độc giả vì đó không chỉ là vốn quý của gia đình, dòng họ và địa phương mà còn là vốn quý trong kho tàng văn hóa nước nhà.

Trong buổi họp mặt Tưởng niệm Ông Phạm Đình Nhân – Phó Trưởng ban thường trực BLL họ Phạm Việt Nam đã có bài phát biểu vừa là Tưởng niệm cụ Thám và cũng có những gợi ý rất hay cho việc nghiên cứu tiếp theo.

Cuối cùng, Giáo sư Tiến sĩ Phạm Vũ Luận, Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo, thay mặt cho gia tộc Phạm – Vũ, đã nói lên những suy nghĩ hiểu biết của mình về tiền nhân, Ông bày tỏ lòng biết ơn Tiên Tổ đã tạo lập truyền thống vẻ vang cho dòng họ. Ông cũng tỏ lòng cảm ơn các cơ quan, tổ chức và các nhà nghiên cứu đã giúp cho Lễ Tưởng niệm thành công tốt đẹp. (ảnh bên GS.TS Phạm Vũ Luận phát biểu)

Lễ tưởng niệm chỉ diễn ra trong một buổi sáng, nhưng đã để lại trong lòng mọi người những ấn tượng rất tốt đẹp. Đặc biết đối với các thế hệ con cháu Họ Phạm – Vũ càng thấy tự hào và trách nhiệm trong việc tiếp nối truyền thống mà Tổ Tiên đã để lại.

Hà Nội, 26/9/2010
Phạm Vũ Câu
»»  Đọc tiếp

14 tháng 9, 2010

Tấm lòng con trẻ

Đăng ngày Thứ Ba, tháng 9 14, 2010 bởi Phạm Đạo · 0 comments

TẤM LÒNG CON TRẺ

Cháu Bùi Vũ Nguyệt Minh, tên gọi thường ngày là GiGi con cô Phạm Thanh Giang. Cháu vừa từ TP. Hồ Chí Minh ra Hà Nội để dự cuộc thi piano quốc tế lần đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội từ 5 -13/9/2010 chào mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội và 200 năm ngày mất của nhạc sỹ thiên tài Ba Lan Chopin. Cháu là thí sinh nhỏ tuổi nhất (sinh ngày 16/11/2000). Cháu đã được vào chung kết và nhận giải đặc biệt “Học bổng Đặng Thái Sơn” trị giá 1.000 USD. Điều đáng quí là cháu nói với mẹ xin trích ra 1.000.000đ (một triệu đồng)để góp vào “Qũi khuyến học, khuyến tài của họ Phạm Việt Nam. Cháu đã trao tận tay cho ông Phạm Đạo, Trưởng Ban liên lạc họ Phạm Việt Nam. Ông Phạm Đạo đã thay mặt BLL họ Phạm Việt Nam cám ơn tấm lòng biết chia sẻ của một hậu duệ dòng họ Phạm, một tài năng Piano đầy triển vọng.


Hà Nội, 14/9/2010
Pha Lê 

Để đọc giả hiểu thêm về cháu GiGi và cuộc thi Piano quốc tế lần thứ nhất tại Hà Nội chúng tôi xin giới thiệu bài "Con rồng nhỏ bay lên" của tác giả Pha Lê

CON RỒNG NHỎ BAY LÊN
(Cháu Bùi Vũ Nguyệt Minh tại cuộc thi piano quốc tế
 được tổ chức tại Hà Nội - ảnh bên)


Thật ngẫu nhiên, đúng vào dịp nhân dân cả nước nhộn nhịp chuẩn bị đón chào Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Học viện âm nhạc quốc gia đã tổ chức cuộc thi piano quốc tế lần đầu tiên tại Việt Nam để chào mừng ngày lễ lớn đó và kỉ niệm 200 năm ngày sinh của nhạc sĩ thiên tài người Ba Lan Chopin. Một con rồng nhỏ đã ra nơi thánh địa này để thử sức mình khi nó mới ra đời cách đây 10 năm.

Cách đây 7 năm, một lần cháu ngồi bên cây đàn piano, giống như những đứa trẻ khác cháu lướt cả hai bàn tay bụ bẫm trên các phím đàn. Nhưng lại khác các đứa trẻ khác là không đập mạnh xuống các phím đàn để phát ra những âm thanh cực lớn rồi cười lên khoái chí. Đằng này những phím đàn lại rung lên nhẹ nhàng thành giai điệu hẳn hoi. Tôi thấy lạ bảo cháu làm lại thì lần nào cũng vậy, những phím đàn dưới những ngón tay xinh xinh ấy đều phát ra những giai điệu khác nhau. Tôi gọi cả nhà ra xem ai cũng thấy đúng như vậy. Và từ đó mẹ cháu bắt đầu cho cháu học piano. Cháu tiến bộ trông thấy nên sau 2 năm mẹ dạy đã phải mời thầy dạy cho cháu.

Mẹ cháu càng vất vả hơn, mỗi tuần 2 lần đèo cháu đến nhà cô Nguyệt - một cô giáo dạy piano để học - không dừng lại ở một thầy một trò, gia đình luôn mong muốn cháu mở mang kiến thức và sự góp ý của các bậc tiền bối trong nghệ thuật Piano – Cháu may mắn được học các buổi master class với giáo viên Piano nổi tiếng Nguyễn Thiện Phương Hạnh, Giáo sư Pháp Adam Wibrowski. Các môn học thị tấu cũng được gia đình mời cô Tuyết đến dậy thật tận tình. Thật may mắn năm 2007 gặp cô TS. Đặng Giang Quân. Mãi đến năm học 2009 -2010 cháu mới thi vào nhạc viện TP. Hồ Chí Minh hệ 9 năm tiếp tục là học trò cô Đặng Ngọc Giang Quân, một tiến sĩ âm nhạc chuyên ngành piano tu nghiệp tại Nga về.
Năm 2008 và 2009, mẹ cháu load trên mạng thấy có cuộc thi piano quốc tế tại Max-cơ-va đã gửi đĩa tham gia, nhưng vì chưa đủ chín mùi nên chỉ nhận được chứng chỉ và mời tham gia lần sau.

Lần này mẹ cháu cũng truy cập Internet thấy cuộc thi này nên đã đăng kí cho cháu đi thi như một thí sinh tự do. Thờì gian quá gấp cháu chỉ còn kịp luyện thêm mấy bài làm hành trang cho mình ra Hà Nội tham gia. Mẹ cháu lại một phen vất vả làm thủ tục. Gia đình thật sự xúc động và tự tin hơn khi đươc Giáo sư âm nhạc – Nhà giáo ưu tú – Nguyên giám đốc nhạc viện TP.HCM viết giấy giấy giới thiệu tham gia cuộc thi (đây là một thủ tục bắt buộc để được dự thi cuộc thi piano quốc tế), rồi lo vé và bận rộn nhất là luyện cho GiGi thành thạo mấy bài đã đăng ký dự thi.

Buổi chiều ra đến Hà Nội thì chập tối cháu bị tai nạn – cháu lên chiếc xe đạp tập thể dục của ông bị pedan ngoặc vào chân rất sâu máu chảy lênh láng phải cho vào viện cấp cứu khâu mất mấy mũi. Thế là cháu bỗng trở thành “Thương binh” chân băng bó nhưng vẫn miệt mài trên cây đàn mới đi thuê về. Hôm ra mắt cô GS.TS Trần Thu Hà tại phòng hòa nhạc Học Viện Âm Nhạc Quốc Gia được cô dìu cháu lên sân khấu và động viên, cháu rất cảm động với sự quan tâm trìu mến đó.

Sáng hôm 6/9 cháu còn bị “Tào Tháo đuổi”. Chiều hôm đó cháu đã quên cả đau bụng, đau chân, tự tin lên sân khấu thi vòng Một. Khi cháu đứng lên chào cám ơn Ban giám khảo và khán giả cả khán phòng vang lên những tràng pháo tay. Cách một ngày sau đấy cháu bước vào vòng II (vòng chung kết) cũng vẫn tự tin, lau lại những phím đàn rồi thả hồn theo tiếng nhạc và đã trình diễn thành công. Rất nhiều vị trong Ban giám khảo quốc tế đã tỏ thái độ khen ngợi.

Chiều hôm 13/9 cháu còn được chương trình “Talk Vietnam” mời ghi hình tại trường quay S9. Tại đó cháu cũng đã trình diễn một bản nhạc, rồi giao lưu với mấy vị Giám khảo người nước ngoài có mặt tại trường quay.

Tôi ngày 13/9, cháu đã đến Nhà hát lớn thành phố Hà Nội để nhận giải thưởng. Cả nhà hồi hộp khi công bố giải: bắt đầu từ giải khuyến khích, giải Ba, giải Nhì, rồi giải Nhất lần lượt cho các Bảng A, Bảng B và Bảng C. Cuối cùng là giải “Học bổng Đặng Thái Sơn” cho nhũng thí sinh triển vọng của ba bảng. Cháu GiGi ra sân khấu trong tiếng hoan hô vang dội. Đích thân Nghệ sỹ nhân dân Đặng Thái Sơn trao tặng cháu tấm bằng, một kỷ vật của giải bằng pha lê và một bó hoa tươi. Ông còn âu yếm nói đôi lời và ôm lấy cháu rất thân tình.


Nghệ sĩ Nhân dân Đặng Thái Sơn đích thân trao học bổng cho cháu Bùi Vũ Nguyệt Minh

Đặc biệt chiều ngày 17/9, Hội nhạc sỹ Việt nam còn tổ chức một buổi “giao lưu” có một số nhạc sỹ tên tuổi như nhạc sỹ Nguyễn Thiện Đạo, Nguyễn cường, Thụy Kha vv… Nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân chủ trì cuộc “Giao lưu” này. Cháu GiGi đã biểu diễn 4 bài có lời giới thiệu cho từng bài. Cháu trình diễn xong, các nhạc sỹ đánh giá cao triển vọng của cháu. Hội nhạc sỹ còn tặng cháu những tặng phẩm quí giá.

Thật là một chuyến đi thành công ngoài sự mong đợi của gia đình. Cháu GiGi đã bắt đầu sự nghiệp âm nhạc “Hàn lâm” đầy cam go này trên thánh địa Thăng Long ngàn năm văn vật. Gia đình, bè bạn và giới nhạc sỹ đang kỳ vọng rất nhiều ở cháu. Có thể nói không ngoa “Con rồng nhỏ” đã bắt đầu cất cánh trên đất Thăng long - Hà Nội yêu quí của chúng ta.

Hà Nôi, 25/9/2010
Pha Lê

»»  Đọc tiếp
 
Trang web của BLL Họ Phạm Việt Nam chính thức bắt đầu hoạt động từ tháng 2/2005. Xem phiên bản cũ tại đây
Vui lòng để liên kết về nguồn tin nếu bạn xuất bản lại thông tin trên trang web này.


Trang web được xây dựng từ nền tảng Blogger.com, cung cấp bởi