Thư kêu gọi xây dưng quỹ Tấm lòng vàng họ Phạm Việt Nam.

Kính gửi các tổ chức, cá nhân, các nhà doanh nghiệp
cùng toàn thể bà con họ Phạm trong và ngoài nước.
Trong những năm qua, các hoạt động tình nghĩa của Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam cũng như của các Ban Liên lạc họ Phạm các địa phương, của các Hội đồng gia tộc các dòng họ Phạm cả nước đã có nhiều hình thức phong phú, kết quả thiết thực, cụ thể là đã khen thưởng động viên các cháu có bố hoặc mẹ họ Phạm đạt thành tích cao trong học tập và các hoạt động khác, cấp học bổng cho các cháu vượt khó vươn lên học giỏi, đồng thời trợ giúp cho các gia đình họ Phạm gặp khó khăn đặc biệt. Nhiều tổ chức, cá nhân, nhiều nhà doanh nghiệp, nhà hảo tâm đã đứng ra tài trợ, đóng góp công của cho các hoạt động này, tạo nên tình cảm đồng tộc rất tốt đẹp, đúng với truyền thống văn hiến của Dân tộc ta. Xem tiếp
.
Hiển thị các bài đăng có nhãn *CHỦ ĐỀ KHÁC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn *CHỦ ĐỀ KHÁC. Hiển thị tất cả bài đăng

19 tháng 1, 2012

Hoạt động từ thiện của quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật

Đăng ngày Thứ Năm, tháng 1 19, 2012 bởi Phạm Đạo · 0 comments


Tin vắn

MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI - TỪ THIỆN CỦA QUỸ GIẢI THƯỞNG PHẠM THẬN DUẬT TRONG DỊP TẾT NHÂM THÌN - 2012

            Ngoài việc trao giải thưởng Sử học Phạm Thận Duật, Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật còn thực hiện các chương trình xã hội - từ thiện. Trong phạm vi hoạt động từ thiện, Quỹ đã có nhiều hoạt động có ý nghĩa như: cứu trợ lũ lụt, thăm hỏi và tặng quà các nạn nhân chất độc da cam, trẻ em khuyết tật và người mù, người già cô đơn không nơi nương tựa trong những dịp lễ tết, cũng như các đợt khám bênh phát thuốc miễn phí và phát quà cho đồng bào nghèo ở một số tỉnh.
      Trong 3 ngày 26, 27, 28 tháng 12.2011, bà Trịnh Thị Liên, Phó chủ tịch Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật, đại diện cho Quỹ cùng với một số Phật tử đã lên thăm 2 trại phong ở 2 huyện Sông Mã, Sơn La và Tuân Giáo, Lai Châu. Tại trại phong huyện Sông Mã, Sơn La đoàn từ thiện tặng 50 xuất quà và tại trại phong huyện Tuần Giáo, Điện Biên tặng 35 xuất quà gồm áo khoác ngoài, chăn bông nhẹ và tiền mặt
      Ngày 7.01.2012, Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật đã tổ chức thăm và tặng 40 suất quà cho đồng bào nghèo ở xã Minh Hòa, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
       Ngày 15.01.2012, Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật đã tổ chức chương trình thăm và tặng quà tết Nhâm Thìn cho đồng bào là nạn nhân chất độc da cam huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang. Đây là lần thứ 3, kể từ năm 2010, Quỹ  tổ chức chương trình thăm và tặng quà tết cho nạn nhân chất độc da cam ở huyện này. Tham gia vào chương trình năm nay, ngoài các thành viên đoàn từ thiện của Quỹ còn có Thầy Thích Tâm Hoan và một số Phật tử chùa Hòe Nhai, Ba Đình, Hà Nội. Buổi lễ trao tặng quà đã được Hội Nạn nhân chất độc da cam huyện Yên Dũng tổ chức long trọng tại hội trường UBND huyện. Ông Dương Văn Quang , Phó Bí thư huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Yên Dũng; ông Lê Anh Thơ, Phó Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam tỉnh Bắc Giang và nhiều ban ngành của huyện đã đến tham dự lễ. Báo chí và Đài Truyền hình Bắc Giang, Yên Dũng đã đến dự và đưa tin về buổi tặng quà đầy tình nghĩa này
         Tại Yên Dũng, chương trình đã tổ chức tặng 250 suất quà tết, giá trị 400.000 đồng/suất gồm có 3 kg gạo nếp, 1kg đậu xanh, 0.5 kg miến, dầu, nước mắm, bột gia vị, mỳ chính, đường, chè, bánh, kẹo và 100.000 đồng tiền mặt. Ngoài ra Quỹ đã trao tặng cho 3 hộ gia đình có nhiều nạn nhân chất độc da cam ở huyện Yên Dũng mỗi hô một con bò để tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống.
         Phát biểu tại buổi lễ ông Dương Văn Quang, Phó bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Yên Dũng ca ngợi những hoạt động từ thiện của Quỹ và thay mặt nhân dân và đồng bào là nạn nhân chất độc da cam bày tỏ lời cảm ơn đến Quỹ và đoàn từ thiện. Buổi trao tặng quà đã được lãnh đạo và đồng bào huyện Yên Dũng đặc biệt hoan nghênh.  
 Diệu Linh                                                          
Sau đây là một số hình ảnh của Quỹ Phạm Thận Duật về tặng quà ở một số địa phương
                            Tặng quà tại Trại phong Sông Mã (Sơn La)

                                Tặng quà tại Trại phong Tuần giáo (Điện Biên)

                       Tặng quà cho đồng bào nghèo ở xã Minh Hòa (Thái Bình).

       Toàn cảnh buổi tặng quà cho nạn nhân chất độc màu da cam ở Yên Dũng (Bắc Giang)

                         Các thiện nguyện viên chuẩn bị tặng quà tại Yên Dũng
                     Các nạn nhân chất đôc màu da cam ở Yên Dũng chờ nhận quà.


  
»»  Đọc tiếp

11 tháng 1, 2012

Người bán vé số

Đăng ngày Thứ Tư, tháng 1 11, 2012 bởi Phạm Đạo · 1 comments

Người bán xổ số “đổi” vé trúng  6,6 tỷ lấy... 200 ngàn đồng
  
Dư luận Long An đang xôn xao với thông tin một người bán vé số nghèo đưa cho khách 10 tờ vé số trúng thưởng 6,6 tỷ đồng để nhận lại 200 ngàn đồng tiền xổ số, dù khách chỉ “mua thiếu (mua chịu – BT) qua điện thoại”.
Người bán vé số không tham tiền tỷ này là chị Phạm Thị Lành, 29 tuổi, hiện đang tạm trú tại thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, Long An. Do ở quê nhà Đồng Tháp không có đất sản xuất nên vợ chồng chị Lành tới Bến Lức bán vé số mưu sinh từ nhiều năm nay.
Khoảng 16 giờ ngày 15.11, còn hơn 20 vé bị ế nên chị gọi điện thoại cho mối quen là anh Đỗ Ngọc Tuấn, 41 tuổi, ngụ khu phố 2, đường Bà Chánh Thâu, thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức - hành nghề chạy xe ba gác - nài nỉ mua dùm. Anh Tuấn đồng ý mua 20 tờ, gồm ba số khác nhau. Gọi là “mua” nhưng chỉ là nói qua điện thoại, anh Tuấn cũng chưa trả tiền và chưa nhận vé.
Chiều cùng ngày, lốc vé 10 tờ của công ty XSKT tỉnh Bến Tre mang dãy số đuôi X91207 trúng đặc biệt 4 tờ, trúng an ủi 6 tờ. Nhiều đồng nghiệp bán vé số bảo người mua chưa trả tiền, coi như chưa mua và nói chị Lành toàn quyền định đoạt “số phận” 10 tờ vé số trúng thưởng với giá trị lên đến gần 7 tỷ đồng này.
Tuy nhiên, chị Lành gạt phăng và cho rằng anh Tuấn là một trong những khách hàng thường xuyên mua vé số ủng hộ chị. Rất nhiều lần anh mua qua điện thoại và dù không trúng lần nào nhưng anh vẫn trả tiền sòng phẳng. Do đó, không thể vì tiền mà chị đánh mất chữ tín.
Ngay lập tức, chị bấm điện thoại gọi anh Tuấn đến quán cà phê để bàn giao số trúng. Cảm kích trước lòng tốt của người bán vé số, anh Tuấn đã tặng ngay 1 tờ trúng giải đặc biệt cho người bán vé số nghèo, anh bảo: “Tặng cô một tờ để làm vốn” (BT) .
Theo tìm hiểu của Dân Việt, vợ chồng chị Lành trước đây sống cùng mẹ ruột là bà Phạm Thị Thèm trong một căn nhà cũ nát rộng chỉ 27m2, dựng nhờ trên đất của một người thân ở xã Long Khánh A, huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp.
Hai người anh trai của chị Lành, một người bị tâm thần, một chết sớm trong khi các chị dâu lại bỏ đi, để lại đến 6 đứa bé côi cút cho bà Thèm và chị Lành nuôi dưỡng. Do bà Thèm đau ốm liên miên lại không có đất sản xuất nên vợ chồng chị Lành đang tính tới phương án đưa đại gia đình lên Bến Lức hành nghề bán vé số.
“Hôm đó tôi để dành cho mình một tờ, lại được tặng thêm một tờ nên đổi thưởng được gần 3 tỷ đồng. Số tiền này, vợ chồng tôi đem về quê cất nhà mới cho mẹ, số còn lại gửi ngân hàng lấy lãi nuôi các cháu. Hiện giờ mọi người bảo tôi là “tỷ phú” nhưng hàng ngày tôi vẫn đi bán vé số để kiếm tiền sinh sống”.
Hỏi có hối tiếc khi giao hết vé trúng cho người khách dù người này chỉ mua bằng miệng và chưa trả tiền, chị Lành đáp ngay: “Có cho tôi suy nghĩ thật kỹ thì tôi cũng trả lại cho khách. Lâu nay họ không thất tín với mình thì mình cũng phãi giữ chữ tín với họ!”▫
                                                  BBT  (Sưu tầm và giới thiệu) 
                                                    

»»  Đọc tiếp

9 tháng 1, 2012

“Hoàng Sa của An Nam là không tranh cãi”

Đăng ngày Thứ Hai, tháng 1 09, 2012 bởi Phạm Đạo · 0 comments


Tư liệu
“Hoàng Sa của An Nam là không tranh cãi”
Thanh Tùng

Ngày 3-3-1925, trong báo cáo gửi Toàn quyền Đông Dương về vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huề khẳng định: Các đảo nhỏ đó bao giờ cũng là sở hữu của nước An Nam, không có sự tranh cãi về vấn đề này.

Tôi có dự hai cuộc hội thảo về dòng họ Thân trong lịch sử Việt Nam, và cũng đã có hai bài viết về nhân vật Thân Trọng Huề. Tôi nhờ NGƯT Thân Trọng Ninh, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Thân tộc, tìm kiếm văn bản này của cụ Thân Trọng Huế nhưng chưa có kết quả. Trong hai lần dự hội thảo tôi được tiếp xúc với bà Yvette Thân Trọng, từ Pháp về. Bà là hậu duệ của chủ bút tờ Le Monde nổi tiếng, và là con dâu của Thượng thư Thân Trọng Ngật. Theo đề nghị của chúng tôi bà Yvette đã đến các thư viện và các cơ quan lưu trữ tài liệu liên quan đến Đông Dương thời thuộc địa. Bà gửi cho tôi bản photocopy báo cáo số 154-K, ngày 22-1-1929, của Khâm sứ Trung Kỳ Le Fol gửi Toàn quyền Đông Dương, trong đó có trích dẫn ý kiến nói trên của cụ Thân Trọng Huề. Văn bản này là một trong 47 phụ lục của cuốn sách Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, xuất bản tại Paris năm 1996. Tác giả là Tiến sĩ Monique Chemillier-Gendreau, nguyên Chủ tịch Hội Luật gia dân chủ Pháp. Cụ Thân Trọng Ninh dịch cho tôi một số phụ lục. Do nhiều chổ bị mờ nhoè tôi phải đi tìm các tài liệu khác để đối chiếu thì tìm được cuốn sách này trong tủ sách của nhà nghiên cứu Phan Thuận An. Sách do NXB Chính trị quốc gia chuyển thể và ấn hành năm 1998. Tôi thấy cần trích dẫn các văn bản của chính quyền Pháp thời thuộc địa để bảo đảm tính khách quan khi tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam về Hoàng Sa và Trường Sa.
Theo báo cáo số 86, ngày 1-5-1949, và báo cáo số 92, ngày 4-5-1909, của Lãnh sứ quán Pháp tại Quảng Châu gửi về Bộ Ngoại giao; báo cáo ngày 15-10-1930 của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, thì năm 1909 chính quyền tỉnh Quảng Đông mới bắt đầu có ý đồ khai thác tài nguyên ở Hoàng Sa. Phó Vương lưỡng Quảng đã cử một đoàn thám sát 15 đảo ở Hoàng Sa. Ngày 19-4-1909 các phái viên đoàn thám sát nộp cho Phó Vương một báo cáo. Theo đó Phó Vương đưa ra ý tưởng trao cho một tập đoàn thương gia trách nhiệm khai thác các vùng đất mà ông ta vừa mới đưa vào lòng thiên triều.
Sau khi củng cố các chứng cứ pháp lý, chính phủ Pháp đã phản đối các kế hoạch khai thác tài nguyên và tranh chấp chủ quyền của phía Trung Quốc ở Hoàng Sa với lý do từ khi có Hiệp ước bảo hộ (Hiệp ước Patenôtre ký tại Huế ngày 6-6-1884) Việt Nam đã quản lý Hoàng Sa trong thời gian hai thế kỷ, và không có sự tranh chấp nào cả.
Từ triều đại nhà Thanh trở về trước, kể cả thời Trung Hoa dân quốc, Trung Quốc không có một bộ chính sử nào chứng minh chủ quyền của họ ở Hoàng Sa. Một đoạn trong báo cáo số 92, ngày 4-5-1909, của Lãnh sứ quán Pháp tại Quảng Châu cũng đã khẳng định điều này. Ông Lãnh sự cho biết: Một chiếc tàu, hình như của Nhật, chở các thỏi đồng, bị đắm ở đó. Chủ tàu bỏ tàu lại. Các công ty bảo hiểm trục vớt hàng. Nhưng khi họ tới thì các ngư dân đã vớt hết hàng chuyển đi. Sau đó người ta có bằng chứng là đồng đã chuyển đi Hải Nam. Công ty bảo hiểm đã thu thập được các biên lai của cơ quan chức năng Trung Quốc trên đảo đánh thuế nhập số đồng đó. Lãnh sự Anh ở Hải Khẩu đưa ra yêu cầu đòi bồi thường nhưng bị chính phủ Trung Quốc bác bỏ bằng cách căn cứ vào việc Hoàng Sa không phải là một bộ phận lãnh thổ của đế quốc Trung Hoa.
Trong khi đó, từ thế kỷ 17 chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được ghi chép khá đầy đủ trong nhiều bộ chính sử. Nhiều cuốn sách địa chí, sử ký, ký sự xuất bản từ thế kỷ 18 đã ghi chép khá nhiều về sự quản lý của Việt Nam đối với Hoàng Sa. Đặc biệt có cuốn Hải ngoại kỷ sự, của một vị cao tăng người Trung Quốc, được chúa Nguyễn Phúc Chu mời đến xứ Đàng Trong truyền đạo. Đó là Hoà thượng Thích Đại Sán. Ông từ Quảng Đông đến Thuận Hoá bằng đường biển, qua cảng thị Hội An. Khi trở về cố quốc (1697), cũng bằng đường biển, ông đã viết Hải ngoại kỷ sự. Đọc Hải ngoại kỷ sự có thể thấy từ trước thế kỷ 17 nhà nước phong kiến Việt Nam đã thực thi chủ quyền của mình trên một vùng lãnh hải rộng lớn, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thông qua các biện pháp thu thuế tàu thuyền buôn nước ngoài; thiết lập đội Hoàng Sa hàng năm ra khai thác hải sản, tìm vớt cổ vật, hàng hoá ở những chiếc tàu bị đắm. Thích Đại Sán viết: “Thời quốc vương trước, hàng năm sai thuyền đi đánh cá đi dọc bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền buôn tấp vào...”.
Các hoạt động thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa của triều Nguyễn bị gián đoạn vào cuối thế kỷ 19 khi bị nước Pháp xâm lược. Đến đầu thế kỷ 20, nhằm ngăn chặn người của các nước khác chiếm Hoàng Sa, dưới danh nghĩa chính phủ bảo hộ, người Pháp thay mặt “Quốc vương An Nam” tiếp tục các hoạt động chủ quyền ở quần đảo này. Từ năm 1920 người Pháp đã thực hiện việc kiểm soát trên biển và kiểm soát hải quan ở quần đảo Hoàng Sa. Theo báo cáo ngày 20-3-1930 của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa thì hoạt động nghiên cứu kinh tế biển đầu tiên ở Hoàng Sa đã diễn ra vào năm 1925, công việc được tiếp tục vào năm 1927, do Viện Hải dương học và Nghề cá ở Nha Trang thực hiện. Cũng theo báo cáo này, trước đó, vào năm 1899, toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã ra quyết định xây một cột hải đăng trên Hoàng Sa, nhưng do ngân sách khó khăn nên công trình không thực hiện được.
 Năm 1925 Toàn quyền Đông Dương ra tuyên bố quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đất của nước Pháp.
Đọc báo cáo ngày 17-12-1928 của Sở Ngoại vụ gửi Toàn quyền Đông Dương và Bộ trưởng Thuộc địa thì biết rằng Cty Phốt phát Bắc Kỳ lúc đó đang xin phép được thăm dò và khai thác phốt phát ở một nhóm đảo tại Hoàng Sa.
Năm 1937, kỹ sư công chính Gaụthier được chính quyền thuộc địa Pháp giao nhiệm vụ nghiên cứu khả năng xây dựng các công trình biển và sân bay, và xây dựng một trạm hải đăng trên đảo Hoàng Sa. Năm 1938, 1939 sau kết quả chuyến nghiên cứu mở rộng của Gaụthier, chính quyền bảo hộ điều động các đơn vị cảnh vệ đến đồn trú tại đảo Hoàng Sa.
 Ngày 15-6-1938, sau khi vua Bảo Đại ký tờ dụ chuyển sự quản lý quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Nam Ngãi về tỉnh Thừa Thiên, Toàn quyền Đông Dương có Nghị định thành lập một đại lý hành chính trên quần đảo Hoàng Sa. Ngày 5-5-1939, Toàn quyền Đông Dương sửa đổi Nghị định nói trên bằng việc thành lập hai đại lý ở quần đảo Hoàng Sa là: đại lý “Lưỡi Liềm và vùng phụ thuộc”, và đại lý “An Vĩnh và vùng phụ thuộc”. Các viên chức đứng đầu đại lý với tư cách là người được công sứ Thừa Thiên uỷ nhiệm, có trụ sở lần lượt ở đảo Hoàng Sa và đảo Phú Lâm. Nghị định này cũng nói rõ người đứng đầu được hưởng kinh phí đại diện và kinh lý một khoản phụ cấp hàng năm là 400 đồng, trích từ ngân sách của Trung Kỳ. Sau đó một hải đăng, một trạm khí tượng, một trạm vô tuyến điện được xây dựng trên Hoàng Sa. Đặc biệt, một tấm bia được dựng trên đảo Hoàng Sa (Pattle) với nội dung: Cộng hoà Pháp – Vương quốc An Nam - Quần đảo Hoàng Sa – 1816 - Đảo Pattle 1938.
Năm 1945 quân Nhật chiếm Hoàng Sa. Nhưng chỉ hơn một năm sau đó phải rút lui, quân đội Pháp trở lại đồn trú. Năm 1950 chính phủ Pháp chuyển giao quyền quản lý các đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho chính phủ do Bảo Đại làm Quốc trưởng. Tháng 4-1956, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, chính quyền miền Nam Việt Nam cử lực lượng đến thay thế quân đội Pháp ở Hoàng Sa. Trong khi đó Trung Quốc cũng bí mật cho quân đội đến chiếm giữ một số đảo ở phía đông Hoàng Sa.
Như vậy, Việt Nam đã thực thi chủ quyền của mình trên quần quần đảo Hoàng Sa liên tục từ thời các chúa Nguyễn. Ban đầu Hoàng Sa trực thuộc Quảng Nam thừa tuyên, dưới danh nghĩa nhà Lê. Thời Tây Sơn và thời nhà Nguyễn triều đình đều duy trì sự quản lý và tiếp tục tổ chức các đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải làm nhiệm vụ tuần tra và khai thác kinh tế biển. Thời kỳ thuộc địa Pháp chính phủ bảo hộ thay mặt triều Nguyễn quản lý Hoàng Sa.
Trong một văn bản ban hành ngày 25-5-1950 của Bộ Ngoại giao Pháp với tiêu đề “Ghi chú cho vụ châu Á về vấn đề quần đảo Hoàng Sa”, ở mục A có nêu rõ: Việc chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa do Pháp tiến hành năm 1931, 1932 là “nhân danh Hoàng đế An Nam”. Trong trường hợp này là việc thi hành chủ quyền có từ trước, là danh nghĩa riêng của An Nam, và với tư cách là nước bảo hộ, chịu trách nhiệm về các quan hệ đối ngoại của An Nam, Pháp sử dụng các quyền đó để chống các nước thứ ba, và có thể nhận được về mặt xét xử quốc tế việc thừa nhận các quyền nói trên.
Từ 1956 chính quyền Việt Nam cộng hoà tiếp quản Hoàng Sa. Liên tục bốn thế kỷ Việt Nam không bao giờ ngừng khẳng định chủ quyền của mình ở Hoàng Sa. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, và thời hậu chiến, đã tạo ra những cơ hội cho cho lực lượng quân sự một số nước chiếm đóng một số đảo ở Hoàng Sa. Họ lấy lý do đã chiếm đóng về quân sự trong vài chục năm để tranh chấp với một nước đã thiết lập chủ quyền liên tục trong bốn thế kỷ như Việt Nam là hết sức vô lý.
                                                                                                  TH.T

Ảnh: 

 Đoàn đại biểu Hội động Họ Phạm Việt Nam chụp ảnh lưu niệm trước 
Tượng đài Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải ở huyện đảo Lý Sơn
 Mặt sau lưng tượng đài Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải khắc dòng chữ Bản quốc hải cương Hoàng Sa xứ tối thị hiểm yếu (Quần đảo Hoàng Sa là nơi cực kỳ hiểm yếu nơi lãnh hải của quốc gia) 
Viếng mộ (cô hồn) Chánh đội Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật ở Lý Sơ

  Viếng mộ (cô hồn) cai đội Hoàng Sa Phạm Quang Ảnh và đồng đội

                              Bia mộ Phạm Hữu Nhật do Tiến sĩ Nguyễn Nhã chấp bút

                                             Tác giả trước án thờ Phạm Hữu Nhật


                                       
»»  Đọc tiếp

2 tháng 1, 2012

Chúc mừng hai cụ song toàn thọ trên trăm tuổi

Đăng ngày Thứ Hai, tháng 1 02, 2012 bởi Phạm Đạo · 1 comments


Chúc mừng hai cụ song toàn
thọ trên trăm tuổi
          Đó là hai cụ: cụ ông Phạm Trì, pháp danh Thich Giác Hành, sinh năm Canh Tuất - 1910, 102 tuổi và cụ bà Nguyễn Thị Nhì, pháp danh Thích Nữ Giác Nhãn, sinh năm Nhâm Tý - 1912. Hai cụ quê ở làng La Qua, xã Điện Minh, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
         Hai cụ cùng xuất gia đầu Phật từ năm 1992. Đến năm 2008 thì theo con trai vào sống tại số nhà 20 Bùi Thị Xuân, khu 4, Thị trấn Quảng Phú, huyện Cư M’ga, tỉnh Đắc Lắc cho đến nay.
         Hai cụ sinh được 8 người con - 5 gái 3 trai, xơ sảy mất người con trai thứ 6 (gọi thứ tự theo cách của người miền Nam), nay còn 7chị em, bà con gái đầu sinh năm Quý Mùi - 1943 và con trai út sinh năm Quý Mão -1963. Hai cụ hiện ở cùng với con trai thứ Tám, có con gái thư Tư ở cùng để trông nom.
        Cụ ông hiện nay vẫn khỏe mạnh ở tuổi 102. Cụ mỗi ngày ăn ba bữa, mỗi bữa một chén cơm, sau đó cụ say sưa đọc sách.  Anh Tám Sơn (Phạm Ngọc Sơn, sinh năm 1959, bạn đọc của Bản tin Nội tộc), người đang trực tiếp nuôi 2 cụ, kể rằng: “Đến bữa, ba em ăn ngon lành và như nghiền đọc sách, không thể rời sách ra được, ba em đọc suốt ngày”. Cụ bà thì trước khi bị gãy cổ xương đùi tháng 8.2011 vẫn khỏe mạnh, nhưng nay thì đi lại khó khăn, cầu mong cụ sớm bình phục!.
       Năm 2010, Ủy Ban MTTQ tỉnh Đắc Lắc và Hội Người Cao tuổi đã tổ chức mừng thọ và trao quà của Chủ tịch nước cho các cụ.
      Được biết các cụ qua anh Sơn, vài năm nay tôi vẫn theo dõi tình hình sức khỏe của hai cụ! Chúc mừng hai cụ và gia đình! Xin kính chúc hai cụ mạnh khỏe và trường thọ!
                                                            Phạm Thị Thúy Lan
Cụ Phạm Trí

Cụ Nguyễn Thị Nhi
Hai cụ cùng cháu nội và ni cô


»»  Đọc tiếp

18 tháng 11, 2011

Chúc mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20.11

Đăng ngày Thứ Sáu, tháng 11 18, 2011 bởi Phạm Đạo · 0 comments


          Nhân dịp ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, tôi xin thay mặt Thường trực Hội đồng họ Phạm Việt Nam và BBT Trang web hophạmvietnam.org xin gửi đến quí thầy cô họ Phạm trong và ngoài nước lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Kính chúc thầy cô và gia đình dồi dào sức khỏe, gia đình hạnh phúc và gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp trồng người.

Chủ tịch HĐHP kiêm TBT Trang web hophamvietnam.org
PGs.Ts Phạm Đạo

      Sau đây xin gửi tặng quí thầy cô và bạn đọc một bài thơ của một bạn trẻ viết tặng thầy cô:

Lời Của Thầy

Rồi các em một ngày sẽ lớn
Sẽ bay xa đến tận cùng trời
Có bao giờ nhớ lại các em ơi
Mái trường xưa một thời em đã sống

Nơi đã đưa em lên tầm cao ước vọng
Vị ngọt đầu đời bóng mát ca dao
Thuở học về cái nắng xôn xao
Lòng thơm nguyên như mùi mực mới

Dẫu biết rằng những tháng ngày sắp tới
Thầy trò mình cũng có lúc chia xa
Sao lòng thầy canh cánh nỗi thiết tha
Muốn gởi các em thêm đôi điều nhắn nhủ

Một lời khuyên biết thế nào cho đủ
Các em mang theo mỗi bước hành trình
Các em lúc nào cũng nhớ đừng quên:
Sống cho xứng với lương tâm phẩm giá...

Rồi các em mỗi người đi mỗi ngả
Chim tung trời bay bổng cánh thanh niên
Ở nơi đâu: rừng sâu, biên giới khắp ba miền
Ở nơi đâu có thầy luôn thương nhớ

(Tạ Nghi Lễ)


»»  Đọc tiếp

9 tháng 6, 2011

Nhớ quê, nhớ Tướng Công Phạm Ngũ Lão

Đăng ngày Thứ Năm, tháng 6 09, 2011 bởi Phạm Đạo · 0 comments



Nhớ quê, nhớ Tướng Công Phạm Ngũ Lão

                                                                                            Vĩnh Trụ

Bóng quê thấp thoáng giếng làng
Hồn quê lãng đãng trên ngàn mây xanh
Bút quê võ vẽ khuôn tranh
Thẳm sâu nguồn cội mong manh ráng chiều.


Đâu rồi ánh mắt trong veo
Trăm thương ngàn nhớ quê nghèo trao nhau
Chưa nắng - đã chụm mái đầu
Chưa mưa – đã nấp vào sau cái nhìn


Đường quê cỏ mướt sương tan
Làng trên xóm dưới râm ran gọi mùa
Chim gù,vẳng tiếng nhặt thưa
Mà xao động cả lòng chưa hẹn lòng!


Chân trời tím – chân trời hồng
Có nghe da diết ruộng đồng nơi quê
Dập dìu sóng lúa ven đê
Đền cong mái hỏi hẹn thề còn không?

Nhớ Phạm Ngũ Lão Tướng Công
Nhớ Hội Đền Ủng ngóng trông rộn ràng
Ơn người mở đất lập làng
Dạy nghề đan lát – giần sàng sẻ chia


Nhớ Người dẹp giặc sơn khê
Giữ yên bờ cõi - làng quê yên bình
Gửi lòng theo khói tâm linh
Khúc vui nguồn cội, quê minh vội ghi./.
-------------------
Đền thờ Tướng Công Phạm Ngũ Lão ở làng Phù Ủng
Xã Bãi Sậy, huyện Ân thi,tỉnh Hưng Yên, Hội Đền Ủng
mở vào ngày 13 tháng giêng Âm lịch hàng năm.

Sưu tầm Phạm Văn Hồng












»»  Đọc tiếp

28 tháng 4, 2011

Người mẹ hơn 80 tuổi nuôi hai con dị tật

Đăng ngày Thứ Năm, tháng 4 28, 2011 bởi Phạm Đạo · 0 comments

Người mẹ hơn 80 tuổi nuôi hai con dị tật


(Dân trí) - Trong căn nhà nhỏ tối tăm của bà Phạm Thị Nhu không ngừng phát ra những tiếng gào thét, khóc lóc cả ngày lẫn đêm. Hơn 80 tuổi, nhưng bà vẫn một mình sớm hôm cơ cực chăm lo cho hai người con gái, một dị tật, một bại liệt.
Về xóm 5, thôn An Bài, xã Đồng Du, huyện Bình Lục (Hà Nam), hỏi thăm gia đình bà Nhu thì bà con trong xóm ai cũng rõ. Nhắc đến bà, một cụ già 82 tuổi trong xóm mắt chăm chăm nhìn về phía nhà bà Nhu rồi thở dài: “Cả đời bà ấy khổ mãi, chồng mất sớm, bà vất vả một thân một mình chăm sóc các con bệnh tật, không biết đời bà đến bao giờ mới hết khổ”.


                                  80 tuổi nhưng bà Nhu vẫn phải chăm sóc 2 người con dị tật

Hôm chúng tôi về thăm bà Nhu đang bị ốm, dù rất mệt nhưng khi có khách đến thăm, bà vẫn gượng dậy trò chuyện cùng chúng tôi. Nhìn một đứa con nằm liệt một góc giường không ngừng la hét, một đứa cứ vịn tường lết chân từng bước để đi ra sân, lâu lâu lại ngã lăn xuống nền nhà khiến bà Nhu không khỏi lo lắng. Kể về những người con bạo bệnh của bà, những giọt nước mắt cứ lăn dài trên khuôn mặt gầy còm, khắc khổ.

Bà Phạm Thị Nhu (sinh năm 1931) có 4 người con (3 gái, 1 trai). Chồng bà bị bệnh tật và qua đời từ khi còn trẻ, mọi gánh nặng gia đình đều đè nặng lên đôi vai của bà. Một tay bà vất vả, cơ cực chăm lo cho 4 người con.

Người con gái đầu là Nguyễn Thị Hằng (sinh năm 1960) từ bé đã mắc bệnh thần kinh, cơ thể cứ yếu ớt, đau ốm quanh năm. Càng lớn lên chị càng có những biểu hiện về căn bệnh thần kinh, chân tay teo tóp dần, không thể đi lại được và chỉ biết gào khóc.

Người con gái thứ hai của bà, chị Nguyễn Thị Thận (sinh năm 1964) lúc bé vẫn khỏe mạnh và còn giúp đỡ mẹ chăm sóc chị gái bại liệt. Nhưng sau lần chị gặp tai nạn thập tử nhất sinh chị bị tê liệt phía bên chân phải và thường xuyên đau nhức đi lại cũng rất khó khăn.

Bà Nhu kể: “Hồi trước tôi cũng nhờ nhiều người mai mối tìm cho nó tấm chồng để lúc về già đỡ vất vả. Nhưng khi về nhà chồng được mấy ngày, thấy nó ốm yếu chẳng làm được việc gì nên bên thông gia cứ chê bai. Nó tủi thân, khóc lóc lại đem đồ đạc về nhà ở với mẹ và chị gái bại liệt. Mấy năm trước nó còn khỏe vẫn giúp tôi làm những việc nhẹ trong nhà nhưng giờ nó yếu lắm, đi đứng còn không vững nữa là…”.

Gia cảnh khó khăn, hai người con sau của bà cũng không được ăn học đến nơi đến chốn và sớm đi làm công nhân. Cả hai đều đã lập gia đình, tuy vậy hoàn cảnh thiếu thốn nên cũng không giúp đỡ được gì nhiều cho bà. Vì thế mọi sinh hoạt, thuốc thang hàng ngày của mấy mẹ con chỉ còn biết trông chờ vào số tiền trợ cấp xã hội 180.000đ/tháng.

Tuổi già, nhìn hàng xóm con cháu đông vui, khỏe mạnh bà lại thấy chạnh lòng. Với bà, niềm hạnh phúc lớn nhất là những ngày các con bà được ăn no và có thuốc bệnh để uống. Nhiều khi nửa đêm các con phát bệnh, tiền không có mấy mẹ con chỉ biết ôm nhau khóc.
Chia sẻ về hoàn cảnh khó khăn của gia đình bà Nhu, ông Ngô Kim Muộn, Chủ tịch mặt trận Tổ quốc xã Đồng Du bày tỏ: "Đã hơn 80 tuôi mà bà ấy vẫn cặm cụi lo từng bữa cơm, bát cháo cho các con. Nhất là những ngày thời tiết thay đổi, mưa lạnh các con của bà Nhu lại phát bệnh, trời mưa mà bà vẫn chống gậy ra đồng hái từng nắm rau về nấu cơm cho các con. Hiểu và cảm thông với nỗi khó khăn của bà, chính quyền địa phương đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ bà, tuy vậy cũng chỉ giúp được một phần nào đó”.
»»  Đọc tiếp

18 tháng 4, 2011

Hoạt động của Quĩ Giải thưởng Phạm Thận Duật

Đăng ngày Thứ Hai, tháng 4 18, 2011 bởi Phạm Đạo · 0 comments

QŨY GIẢI THƯỞNG PHẠM THẬN DUẬT TẶNG XE LĂN
CHO ĐỒNG BÀO BỊ KHUYẾT TẬT Ở THÁI BÌNH

Ngày 8.4.2011, thực hiện chương trình từ thiện xã hội trong Quý II năm 2011, Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật đã về xã Minh Hòa, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình trao tặng 4 chiếc xe lăn theo đề nghị của Hội Chữ thập đỏ của xã. Trong buổi lễ Ông Hoàng Đức Bồng, Chủ tịch UBND xã Minh Hòa đã phát biểu cảm ơn Quỹ Phạm Thận Duật đã ưu ái cho xã Minh Hòa sau lần về xã trao tặng quà tết trước tết năm Tân Mão. Ông đã cùng ông Bí thư Đảng ủy xã và các vị lãnh đạo Quỹ trao tận tay và đẩy xe lăn cho các đồng bào bị khuyết tật ra ngoài hội trường kết thúc lẽ trao tặng. Sau đây là một vài hình ảnh

                                           Chủ tịch UBND xã Minh Hòa phát biểu cảm ơn

Các vị lãnh đạo Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật và Chủ tịch, Bí thư Đảng ủy
 xã Minh Hòa chụp chung với đồng bào khuyết tật trên xe lăn

Tin Đình Nguyên
»»  Đọc tiếp

Một đám cưới

Đăng ngày Thứ Hai, tháng 4 18, 2011 bởi Phạm Đạo · 0 comments

Nhân ngày “Người tàn tật Việt Nam”

MỘT ĐÁM CƯỚI Ở NƠI “SÁNG NGỜI TÌNH THƯONG”

Đó là đám cưới cùa anh Chau Sieng Sô Phiếp, người dân tộc Khơ Me quê ở Tri Tôn - An Giang và chị Lành Thị Thể, người dân tộc Nùng quê ở Hữu Lũng -Lạng Sơn diễn ra sáng ngày 15.4.2011 tại Trung tâm dạy nghề nhân đạo Tâm-Tín (gọi tắt là T&T). Đám cưới hai học sinh của Trung tam được kết hợp với ngày Lễ Kỷ niệm “Ngày Người tàn tật Việt Nam 18.4”.
Chú rể ngồi trên xe lăn, luôn luôn có cô dâu tay bị khoèo đẩy xe. Những người đến dự là các bạn cũng khuyết tật: hoặc câm, điếc, hoặc tay, chân, hoặc thân thể không lành lặn. cùng các cô giáo của Trung tâm dạy nghề nhân đạo T&T. Khách đến dự là đại diện cấp ủy, Ủy ban Nhân dân, Mặt trận Tổ Quốc và các cán bộ của huyện Từ Liêm và xã Mễ Trì, TP Hà Nội. Giám đốc Xưởng sản xuất Tranh đá quý Xuân Việt Phạm Văn Xuân, đại diên Hiệp hội Sản xuất và Kinh doanh của Người tàn tật Việt Nam. Đặc biệt rất đông các “anh” bộ đội đã nghỉ hưu: Tổng Giám đốc Lê Bình và Phó Tổng Giám đốc Đinh Quang Tíến cùng các vị thuộc Công ty cổ phần đồng đội Tây Trường Sơn, Giám đốc Nguyễn Thời Bình cùng các vị ở Trung tâm hỗ trợ nhân đạo Tây Trường Sơn, ông Vương Đặng Hòa, Giám đốc Trung tâm văn hóa của Trung tâm hỗ trợ Nhân đạo Tây Trường Sơn. Đại diện Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam, bà Phạm Thị Thúy Lan, Ủy viên Thưởng trực kiêm Tổng Biên tập Thông tin họ Phạm Việt Nam cùng ông Phạm Văn Hồng, Ủy viên BLL, bà Nguyễn Thị Bình, Phó Chủ nhiệm CLB gái đảm dâu hiền của dòng họ Phạm-Phạm Xá cũng đến dự.
Niềm vui và sự xúc động lộ rõ trên nét mặt mặt mọi người.
Trung tâm dạy nghề Nhân đạo T&T được thành lập theo Quyết định số 3701/QĐ-UBND ngày 19/9/2007 của UBND Thành phố Hà Nội. Là tổ chức nhân đạo, hoạt động theo phương thức phi lợi nhuận, tự lo liệu kinh phí và phương tiện hoạt động. Mục tiêu của Trung tâm là: Dạy nghề miễn phí và tạo việc làm cho học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mồ côi và khuyết tật còn khả năng lao động từ 16 đến 25 tuổi. Hàng năm, đã tuyển sinh và dạy nghề miễn phí cho 97 học sinh thuộc các đối tượng trên với các nghề: Tin học, sửa chữa xe máy, may dân dụng, thêu ren và làm tranh đá quý, đá bán quý. Sau khi học nghề học sinh được cấp chứng chỉ nghề và được Trung tâm giúp đỡ để có việc làm tại các cơ sở sản xuất; một số trở về quê hương lập nghiệp và làm việc ngay tại xưởng sản xuất của Trung tâm. Trung tâm còn tạo việc làm cho học sinh, mở được Xưởng sản xuất tranh và đá quý, mở dược các Triển lãm giới thiệu mặt hàng và tiêu tụ sản phẩm
Đã tổ chức khám, chữa bệnh bằng phương pháp Đông Y hoàn toàn miễn phí cho 528 lượt người khuyết tật, người già cô đơn và người cao tuổi trên địa bàn Hà Nội; Nhân ngày 18-4, kỷ niệm ngày “Người khuyết tật Việt Nam", Trung tâm đã tổ chức khám, tư vấn chữa bệnh và phát thuốc bổ miễn phí cho 362 người khuyết tật của 03 xã: xã Mễ Trì - huyện Từ Liêm, xã Song Phương – huyện Hoài Đức, xã Hữu Hòa – huyện Thanh Trì. Tặng 35 xe lăn cho người khuyết tật, 365 suất quà (mỗi suất trị giá 100.000đ) cho người khuyết tật và người già cô đơn, trẻ em mồ côi nhân ngày “Thế giới người tàn tật” và Tết Nguyên đán. Ủng hộ Quỹ khuyến học và Hội người cao tuổi trên địa bàn thôn Phú Đô.
Ngoài việc học nghề, học sinh của Trung tâm còn được học Tiếng Anh, đàn, múa hát, đi tham quan dã ngoại, tham gia giao lưu với các tổ chức nhân đạo, thanh niên tình nguyện trong nước và Quốc tế (BBT sẽ có bài chuyên đề để giới thiệu kỹ hơn về Trung tâm).

Học sinh đến học có quê quán ở khắp các tỉnh.
Giám đốc Trung tâm là Nhà giáo Phạm Thị Thơm, Phó Giám đốc là các Thạc sĩ Phạm Văn Tiến và ông Phạm Văn Dũng. Đây là môt cơ sơ nhân đạo do những người họ Phạm tập hợp lại và hoạt động cho mục đich nhân đạo, đã thu được những kết quả đáng khích lệ và được đia phương đánh giá cao.
Ngoài việc đào tạo, Trung tâm còn chăm lo đời sống cho học sinh, thực sự trở thành tổ ấm cho các mảnh đời kém may mắn, có chỗ ăn ở cho học sinh tương đối chu đao.
Đám cưới mà hôm nay Trung tâm tổ chức cho học sinh của mình cũng phần nào thể hiện sự chăm lo đó. Nhìn đôi bạn không lành lặn ríu rít bên nhau, mọi người như cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn và thầm cảm phục Người sáng lập Trung tâm – bà Phạm Thị Thơm với tấm lòng nhân hậu của bà. Với cái TÂM vì mọi người, bà đã xây dựng Trung tâm của mình trở thành nơi ”Sáng ngời tình thương” như lòng mong muốn của bà.

Thúy Lan

Một vài hình ảnh về đám cưới và hoạt động của Trung Tâm
        Cô dâu, chú rể, 2 người bạn khuyết tật và bà Phạm Thị Thơm, Giám đốc Trung tâm
                                                 Đại diện người khuyết tật phát biểu ý kiến.
                         Khách dự đám cưới chụp ảnh lưu niệm với cô dâu, chú rể và Trung tâm.
                                             Hoạt động từ thiện của Trung tâm
Trung tâm trưng bày gian hàng tại Trung tâm Hội nghị Quốc Gia
và Tổ chức triển lãm tại 45 Tràng Tiền

 


»»  Đọc tiếp

25 tháng 11, 2010

Một đại gia "thất hứa nơi cửa phật"

Đăng ngày Thứ Năm, tháng 11 25, 2010 bởi Phạm Đạo · 3 comments

Một đại gia “thất hứa nơi cửa phật”

11/11/2010
Hành trình của chuông “Thăng Long Hoàng Thành”…

Chào đón 1000 năm Thăng long – Hà Nội, ngày 28/01/2010, UBND huyện Thanh Trì (Hà Nội) đã tổ chức lễ khởi công công trình tu bổ tôn tạo đình thờ Đô Hồ Đại Vương Pham Tu(đình thờ Phạm Tu) tại xã Thanh Liệt. Ngày lễ khởi công đã nhận được sự phát tâm công đức để tu bổ tôn tạo đình của nhiều tập thể cá nhân. Trong đó có ông Hoàng Trọng Tùng (nguyên quán Vũ Thư – Thái Bình) hiện công tác tại một công ty thuộc tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam nhận công đức quả chuông trị giá bằng tiền là 2 tỷ đồng. Ông Tùng đã được ban tổ chức cấp giấy chứng nhận công đức quả chuông cho đình thờ Phạm Tu trước sự chứng kiến của đông đảo nhân dân và các cấp chính quyền.
Sau lễ khởi công đình thờ Phạm Tu, ông Tùng có chuyển 7 tấn đồng và 1,5 tấn thiếc về UBND xã Thanh Liệt để chuẩn bị đúc chuông. Ngoài số đồng và thiếc do ông Tùng cung tiến để đúc quả chuông, nguồn kinh phí tổ chức đúc chuông cũng do ông Hoàng Trọng Tùng nhận bỏ ra chi phí.


                                      Lễ khởi công đúc chuông tại sân thể thao xã Thanh Liệt

Ngày 06-5-2010, UBND xã Thanh Liệt có công văn số 20/UB-VH báo cáo việc đúc chuông công đức gửi UBND huyện Thanh Trì. Giữa các bên họp bàn, UBND xã Thanh Liệt được giao việc chuẩn bị bài văn khắc trên chuông về lịch sử địa phương, Kinh bát Nhã, bài chú Đại Bi, bảo đảm an ninh…
Theo sư thầy Thích Minh Ngọc, chùa Quang Ân ngoài số tiền ông Tùng nhận công đức đúc quả chuông trị giá 2 tỷ đồng thì nhiều người dân còn đến công đức tiền, vàng để đúc chuông. Số người tham gia công đức lên tới 627 người. Ngoài ra còn có vài chục người dân cung tiến vàng nén (có người một vài chỉ, có người cung tiến hàng cây vàng) để nấu cùng với 7 tấn đồng và 1,5 tấn thiếc của ông Tùng.

                             Sư thầy Thích Minh Trí cho vàng vào nấu cùng với đồng và thiếc

Ngày 27/5/2010 (tức ngày 14/4 Canh Dần) Đại Đức Thích Minh Trí- trụ trì chùa Quang Ân đã phối hợp chính quyền địa phương, ông Hoàng Trọng Tùng và đông đảo nhân dân tổ chức Lễ rót đồng đúc chuông trước sự chứng kiến và phát tâm công đức của nhân dân xã Thanh Liệt và đông đảo khách thập phương và phật tử chùa Quang Ân. Trước khi buổi lễ đúc chuông diễn ra Đài truyền thanh xã đã có thông báo về việc đúc chuông, nhiều người dân và tăng ni phật tử biết việc đúc chuông đã tới dự và cùng phát tâm công đức góp tiền, vàng để đúc quả chuông lớn chưa từng có ở Thanh Liệt.
Sư thầy Thích Minh Ngọc cho biết: Chuông “Thăng Long Hoàng Thành” đúc thành công nặng 7650kg được đánh giá là chuông đồng thành công nhất hiện nay. Tiếng chuông trong, thanh cao và có độ ngân hơn 3 phút (độ ngân của chuông hiện nay ngân hơn 2 phút). Ý nghĩa tinh thần của việc đúc thành công chuông “Thăng Long Hoàng Thành” là vô cùng to lớn đối với nhân dân xã Thanh Liệt và nhân dân cả nước để dâng lên đức Đô Hồ Đại Vương Phạm Tu đúng vào dịp 1000 năm Thăng Long Hà Nội.

Chuông không được đặt đúng vị trí?

Tuy nhiên, chuyện buồn đã xảy ra. Sau khi đúc chuông xong ông Hoàng Trọng Tùng lại coi quả chuông đó là của riêng ông. Ông đem chuông về Ý Yên - Nam Định chỉnh sửa và cho khắc tên ông và gia đình vào chuông mà không hề nhắc tới người dân xã Thanh Liệt và tăng ni phật tử đã công đức tiền và vàng trong buổi lễ đúc chuông?!. Việc làm của ông Tùng đã gây bức xúc cho nhân dân xã Thanh Liệt và hàng nghìn những tấm lòng thành tâm đã đóng góp công sức, tiền, vàng nén mong có được bảo khí chuông “Thăng Long Hoàng Thành”.

                Sau khi chuông đúc xong ông Tùng mang chuông về Ý Yên cho khắc tên gia đình

Theo nguồn tin của PV thì ông Tùng cho rằng do địa phương chưa có tháp treo chuông nên ông mang đi “công đức” ở nơi khác. Mặt khác ông Tùng cho rằng quả chuông đó là của cá nhân ông và ông có quyền chuyển đi “công đức” bất cứ đâu. Ông đưa ra lý do là xã Thanh Liệt không chuyển kịp cho ông bài văn khắc trên chuông về lịch sử địa phương, Kinh bát Nhã, bài chú Đại Bi nên ông chỉ khắc tên gia đình ông trên chuông. Tuy nhiên, với lý do trên người dân Thanh Liệt và cả chính quyền xã đã có những cuộc họp khẳng định khi chưa xây kịp được tháp treo chuông, chuông đúc xong sẽ đưa về Tam Quan Bảo ở Chùa Quang Ân treo để kịp rung chuông vào ngày 10-10. Khi nào hoàn thiện cả một quần thể di tích: Đình Phạm Tu, Chùa Quang Ân, Đền... lúc đó chuông sẽ được đặt đúng vị trí ban đầu. Bên cạnh đó, việc duyệt nội dung khắc trên 3 mặt quả chuông về lịch sử xã Thanh Liệt, Kinh bát Nhã, bài chú Đại Bi cũng phải có thời gian và cấp thẩm quyền duyệt…chứ không thể ông Tùng đề nghị mà chuyển ngay nội dung được, một cán bộ UBND xã Thanh Liệt cho hay.
Ngày 10/10/2010, Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Nhân dân xã Thanh Liệt và nhiều phật tử chưa được nghe tiếng chuông ngân vang từ Đình thờ Đô Hồ Đại Vương Phạm Tu.

                                     Chuông Thăng Long Hoàng Thành được treo tại
đ                ền thờ Kim Ngưu Đế Quân- phủ Tây Hồ chứ không phải ở đình thờ Phạm Tu

Phản ánh sự việc qua bài này, theo chúng tôi, việc ông Tùng công đức quả chuông trị giá 2 tỷ đồng cho đình thờ Phạm Tu, nếu không có tiền, vàng của nhân dân và phật tử đóng góp thêm để đúc chuông thì ông vẫn thực hiện được. Tuy nhiên, rất nhiều người dân và tăng ni phật tử cả nước cùng tham gia góp tiền, vàng để đúc quả chuông thì ông Tùng không thể nhận đó là quả chuông của riêng ông. Cho dù trong sự việc này, công lớn phần nhiều thuộc về ông Tùng nhưng ông lại quên đi những người dân cùng tham gia đóng góp với ông trong buổi lễ đúc chuông là không không thể chấp nhận được. Hơn nữa, ông đã hứa công đức cho đình thờ Phạm Tu thì ông nên thực hiện chứ ai lại thất hứa “nơi của phật” như thế để gây bất bình cho dư luận và nhân dân!

QUANG HƯNG-THÀNHNAM
»»  Đọc tiếp

18 tháng 10, 2010

Tin vui từ cuộc thi Siêu mẫu 2010

Đăng ngày Thứ Hai, tháng 10 18, 2010 bởi Phạm Đạo · 0 comments

Lời Ban biên tập: Họ Phạm Ta thật lắm tài năng, chúng ta có nhiều chính khách nổi tiếng, có nhiều nhà văn nhà thơ tài hoa, có nhiều nhạc sỹ tài giỏi và không ít các vận động viên xuất sắc đem lại vinh quang cho đất nước, .. và giờ đây trên lĩnh vực người mẫu chúng ta lại có người đạt vương miễn siêu mẫu năm 2100. Điều đó không đáng để chúng ta tự hào sao!

Ngọc Thạch và Ngọc Tình đoạt cúp vàng Siêu mẫu 2010


17/10/2010 16:23

(TNO) Tối 16.10, chung kết cuộc thi Siêu mẫu 2010 đã đi đến chặng đường cuối cùng và xác định hai gương mặt đạt cúp vàng Siêu mẫu, đó là Phạm Ngọc Thạch và Trương Ngọc Tình.

Trải qua chặng đường gần hai tháng kể từ khi cuộc thi Siêu mẫu chính thức khởi động, Phạm Ngọc Thạch đã luôn là một trong những ứng cử viên sáng giá.

Cô gái 19 tuổi này đã thể hiện bản lĩnh sân khấu và kinh nghiệm biểu diễn của một người mẫu chuyên nghiệp, và giành được chiến thắng thuyết phục ở danh hiệu Siêu mẫu dành cho nữ.

Trong khi đó, về phía nam, cúp vàng Siêu mẫu được trao cho Trương Ngọc Tình. Đây là một kết quả nằm ngoài dự đoán trước khi bước vào đêm chung kết. Tuy nhiên, Ngọc Tình đã gây được ấn tượng tốt trong đêm thi quyết định và xứng đáng với danh hiệu Siêu mẫu dành cho nam.

Giải bạc Siêu mẫu 2010 thuộc về cặp đôi Phạm Thị Thùy Linh và Hoàng Gia Ngọc, giải đồng thuộc về Lê Khôi Nguyên và Phạm Anh Thư.

Phạm Ngọc Thạch và Trương Ngọc Tình cũng nhận được giải thưởng Khán giả yêu thích nhất.

Tiền thân là cuộc thi Siêu mẫu Việt Nam, sau 6 lần tổ chức, năm nay cuộc thi dành cho giới người mẫu trong cả nước do Đài Truyền hình TP.HCM, tạp chí Thời Trang Trẻ và Công ty Cát Tiên Sa tổ chức, được đổi tên là Siêu mẫu.

Siêu mẫu 2010 với nhiều thay đổi trong khâu tổ chức, nội dung chương trình, đã tạo được sự mới mẻ cho khán giả cũng như chính những thí sinh tham dự.


»»  Đọc tiếp

28 tháng 1, 2010

Bài hát "Chung sức tương lai"

Đăng ngày Thứ Năm, tháng 1 28, 2010 bởi PKDuong · 1 comments



- Ca sĩ trình bày: Hương Trà
- Sáng tác, hát phối bè: Mai Pham

Lời giới thiệu của Ban biên tập: Anh Mai Phạm là một Việt kiều sinh sống tại Australia. Anh vừa là một doanh nhân vừa là một nhạc sỹ. Anh đã từng sáng tác nhiều bài hát về quê hương đất nước. Bài hát anh viết tặng cho ban tổ chức gây quỹ từ thiện "Chung sức tương lai". Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài hát này đến bạn độc xa gần.

Mời các bạn nghe bài nhạc:


(máy của bạn cần có Window Media Player để nghe. Hoạt động tốt với trình duyệt IE.7 hoặc IE.8)

Hoặc có thể tải về bài hát theo đường link dưới đây:

+ Download file MP3 dung lượng 3.2MB

+ Download bản nhạc PDF dung lượng 36KB
»»  Đọc tiếp

17 tháng 12, 2009

Cờ thiêng họ Phạm

Đăng ngày Thứ Năm, tháng 12 17, 2009 bởi Phạm Đạo · 4 comments











Cờ Thiêng Họ Phạm

Cội nguồn gia sản thiêng liêng
Họ tên cha mẹ đặt riêng từng người
Bôn ba góc biển chân trời
Nhớ mình họ Phạm để mời kết giao
Vốn chung một giọt máu đào
Hơn ao nước lã lẽ nào xa nhau
Không phân chính kiến, nghèo, giầu
Núi cao, biển rộng không cầu vẫn đi
Cao tằng lẫm liệt uy nghi
Phạm Tu thuỷ tổ tiên tri đầu ngành
Nhờ dòng huyết thống trâm anh
Cháu con hưởng lộc thanh danh bao người
Trời xuân hương sắc tuyệt vời
Họ ta họp mặt - một thời lãng quên
Bây giờ cờ hiệu đính lên
Trẻ, già, trai, gái tiếp nền gia phong
Nhớ câu gạn đục khơi trong
Nhường cơm sẻ áo, sẵn lòng giúp nhau
Tương đồng nghĩa nặng tình sâu
Danh thơm dòng tộc bấy lâu rạng ngời
Cờ thiêng họ Phạm thắm tươi
Phất cùng trăm họ xây đời ấm no.



















Hồng Soang
»»  Đọc tiếp

18 tháng 11, 2009

Thư của nhạc sỹ Phạm Hanh

Đăng ngày Thứ Tư, tháng 11 18, 2009 bởi Phạm Đạo · 0 comments

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2009

Kính gửi: Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam

Vừa qua, nhân xem tập “Quy chế Việc họ”, tôi có được thông tin là bài hát “Họ Phạm trong lòng mẹ Việt Nam” của tôi đã được phổ biến rộng rãi trong các dòng họ Phạm trên toàn quốc, và nhiều dòng họ Phạm đã tỏ ra yêu thích bài hát này. Tôi rất phấn khởi vì tấm lòng của mình đã được bà con đồng tộc tiếp nhận.

Để bài hát trở thành tài sản chung cho cả dòng họ, phục vụ dòng họ được lâu dài mãi cho đến các đời sau, tôi xin tự nguyện bàn giao “Bản quyền tác giả” và “đĩa gốc” cho Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam. Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam có toàn quyền sử dụng bài hát này.

Kính mong Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam tiếp nhận.

Tôi chân thành cám ơn

Kính thư
Phạm Hanh


»»  Đọc tiếp

2 tháng 11, 2009

Họ Phạm (ca khúc)

Đăng ngày Thứ Hai, tháng 11 02, 2009 bởi Phạm Đạo · 5 comments

Nhạc sỹ Phạm Hanh sau khi đọc bài thơ giải thích chữ Phạm của nhà thơ Phạm Đạo đã rất xúc động liền phổ nhạc bài thơ ấy thành một ca khúc họ Phạm mới. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tác phẩm mới này đến bạn đọc xa gần.


»»  Đọc tiếp

17 tháng 9, 2009

Hài hước về rượu

Đăng ngày Thứ Năm, tháng 9 17, 2009 bởi PK.Dương · 0 comments

1. Rượu và người

- Người chết đuối trong ly rượu đông hơn người chết đuối dưới sông
- Người cầm chiếc li lắc lư trong tay run vì say rượu, bạn biết họ uống cái gì không ? Họ uống nước mắt, máu huyết, đời sống của vợ con họ đấy.
- Sóng nước mắt người đàn bà đẹp bao giờ cũng có tác dụng như một ly rượu ngon mà người đàn ông là kẻ bợm rượu
- Còn bạc còn tiền còn đệ tử, hết cơm hết rượu hết ông tôi

2. Thơ về rượu

Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quậy ta
Chừa được cái gì hay cái nấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà

Tay cầm bầu rượu nắm nem
Mải vui quên hết lời em dặn dò
Còn trời còn nước còn non
Còn cô bán rượu anh còn say sưa

Tay tiên rót chén rượu đào
Đổ đi thì tiếc uống vào thì say

3. Tục ngữ về rượu

Nam vô tửu như kỳ vô phong (Đàn ông không rượu như cờ không gió)

Tửu nhập tâm như hổ nhập lâm (Rượu vào lòng như cọp vào rừng)

Tửu nhập ngôn xuất (Rượu vào lời ra)

5. Ngạn ngữ về rượu

Rượu là kẻ phản bội: trước là bạn sau là thù - Ngạn ngữ Anh

Trong rượu có sự thật - Ngạn ngữ Hy Lạp

Điên, nghèo và say rượu, ba thứ này chẳng có thứ khăn nào che được
Ngạn ngữ Hungari

Hãy đứng xa con voi bảy bước, cách con trâu mười bước và cách thằng say ba mươi bước
Ngạn ngữ Ấn Độ

Thêm nước vào rượu ta làm hư rượu, không thêm nước vào rượu ta làm hư ta

Ngạn ngữ Tây Ban Nha

Chén rượu thứ nhất: Người uống rượu
Chén rượu thứ hai: Rượu uống rượu
Chén rượu thứ ba: Rượu uống người

Kẻ uống, không biết tác hại của rượu, người không uống, chẳng biết cái lợi của rượu

Ngạn ngữ Nhật Bản

Đối với người say rượu, nước biển chỉ cao tới đầu gối
Ngạn ngữ Nga

Rượu ngon và gái đẹp là hai thứ thuốc độc hoà hợp với nhau
Ngạn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ

4. Rựợu bất tử

Vua Ngũ Đế ở thời nhà Hán có lần được biếu một bình rượu bất tử. Một quan đại thần đã uống trộm một ít. Nhà vua bắt được và nổi giận sai lính đem đại thần đi chém đầu. Nhưng viên quan đại thần liền nói:
- Muôn tâu bệ hạ, thứ rượu mà kẻ hạ thần uống là thứ rượu bất tử. Bởi vậy không thể giết được kẻ đại thần. Còn nếu như thần bị giết chết thì đó sẽ là bằng chứng nói lên rằng thứ rượu bất tử này là rượu rởm.


5. Rượu vang dở (kém chất lượng)

Hai anh bạn ngồi tâm sự, anh này hỏi anh kia:
- Này cậu, cậu có thấy một số nhà văn bình thường đó trở thành nhà phê bình nổi tiếng không ?
Anh kia đáp:
- Đúng đấy! Tớ có biết chuyện đó. Theo tớ điều đó là bình thường vì đôi khi rượu vang dở, kém chất lượng lại làm được thành dấm rất ngon.

6. Rượu làm bay hơi nhân cách

Trong lớp học môn hoá học, thầy giáo hỏi một học trò:
- Em hãy cho thầy biết tính chất hoá học của rượu êtylic?
Học trò đáp:
- Thưa thầy! Rượu là một chất không màu, nhưng làm đỏ mặt người. Nó không tự cháy nhưng làm cháy túi tiền, khi tác dụng với món "mộc tồn" (thịt chó) tạo chất hung hăng và làm bay hơi nhân cách ạ.

Phạm Đình Điểu (Sưu tầm và biên soạn)
»»  Đọc tiếp

11 tháng 5, 2009

Thơ ca Danh tướng Phạm Tu

Đăng ngày Thứ Hai, tháng 5 11, 2009 bởi PK.Dương · 0 comments


Thuỷ tổ họ ta Danh tướng tài

Sức mạnh chí bền một chẳng hai

Giường cột quốc gia thời trứng nước

Khai sinh Phạm tộc buổi ban mai

Khơi dòng Tiên tổ gương hào kiệt

Kế bước đời đời đẹp trúc mai

Hổ phụ Rồng Tiên sinh Hổ tử

Vạn Xuân muôn thuở rạng tương lai.



Phạm Văn Dật





»»  Đọc tiếp

27 tháng 3, 2009

Ông Phạm Đức Hải giữ chức Tổng biên tập Báo Tuổi Trẻ

Đăng ngày Thứ Sáu, tháng 3 27, 2009 bởi PKDuong · 0 comments

Hôm qua 25.3 tại Báo Tuổi Trẻ (TP.HCM), Bí thư Thành Đoàn TP.HCM Nguyễn Văn Hiếu trao quyết định của Ban Thường vụ Thành Đoàn về tiếp nhận, điều động và bổ nhiệm ông Phạm Đức Hải - Phó trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP.HCM, giữ chức vụ Tổng biên tập Báo Tuổi Trẻ trong 5 năm, kể từ 26.3.2009.

Ông Phạm Đức Hải sinh năm 1963 tại Sài Gòn, trình độ thạc sĩ kinh tế, cử nhân chính trị, nguyên là Phó bí thư Thường trực Thành Đoàn.

Theo Thanh niên Online (26/03/2009)
»»  Đọc tiếp

23 tháng 3, 2009

Cô gái trẻ gốc Việt Jasmine Phạm trở thành Á hậu Canada

Đăng ngày Thứ Hai, tháng 3 23, 2009 bởi PKDuong · 0 comments

Trong cuộc thi Hoa hậu Thế giới Canada 2009 diễn ra hôm 22/3/2009 vừa qua, có một cô gái gốc Việt đã giành ngôi á hậu 3, đó là người đẹp 18 tuổi Jasmine Phạm.

Jasmine Phạm năm nay 18 tuổi, cao 1,75m. Cô sinh ra và lớn lên tại Ontario, Canada nhưng lại mang trong mình một phần dòng máu Việt Nam. Jasmine Phạm sẽ tốt nghiệp phổ thông vào tháng 6 tới và cô có kế hoạch theo học đại học Waterloo, Canada sau khi tốt nghiệp phổ thông.

Năm 2008, Jasmine Phạm đã đăng quang Hoa hậu Kapuskasing - cuộc thi diễn ra tại thành phố nhỏ nơi cô đang sống cùng cha mẹ và nhiều anh chị em thân thích.

Cách đây ít tháng, Jasmine Phạm tham dự cuộc thi Hoa hậu tuổi teen Bắc Ontario. Cô đã vượt qua 22 thí sinh khác và giành chiến thắng với phần thưởng là vương miện, 1000 đô la tiền mặt, vòng cổ kim cương, tranh quý các một vài tác phẩm điêu khắc có giá trị khác.


Jasmine Phạm đăng quang Hoa hậu tuổi teen Bắc Ontario

Ngay sau khi giành vương miện Hoa hậu tuổi teen Bắc Ontario, Jasmine Phạm đã tuyên bố cô có ý định tham dự cả cuộc thi Hoa hậu Thế giới và Hoa hậu Hoàn vũ Canada. Khi tham dự cuộc thi Hoa hậu Thế giới Canada, người đẹp gốc Việt là gương mặt khá nổi trội và kết quả cuối cùng cô đã giành được danh hiệu á hậu ba.


Jasmine Phạm xinh đẹp, quyến rũ



Jasmine Phạm ngoài cùng bên trái

Cô gái trẻ xinh đẹp này là một người đam mê âm nhạc, cô tham gia biểu diễn văn nghệ khá thường xuyên tại nơi cô sinh sống và ngoài ra, Jasmine Phạm còn thích chơi bóng chuyền, bóng chày.

Đi du lịch để khám phá các nền văn hóa khác nhau cũng là một đam mê lớn của nàng á hậu duyên dáng này. Gần đây, Jasmine Phạm đã có chuyến quay lại Việt Nam, cô tâm sự là cô cảm thấy rất hạnh phúc khi được hiểu thêm về quê hương của mình.


Là một người ham học hỏi và không ngừng khám phá, phương châm sống của Jasmine Phạm là: “Đừng đi theo lối mòn mà bạn hãy tự tạo ra con đường của riêng mình”.

Jasmine Phạm tiết lộ, cô thích đọc cuốn sách Hồi ức của một geisha, thần tượng đạo diễn phim Titanic James Cameron và rất yêu quê hương Việt Nam - đất nước mà cô muốn được về thăm nhiều hơn nữa.


Vĩnh Ngọc
Theo GB/MC
»»  Đọc tiếp
 
Trang web của BLL Họ Phạm Việt Nam chính thức bắt đầu hoạt động từ tháng 2/2005. Xem phiên bản cũ tại đây
Vui lòng để liên kết về nguồn tin nếu bạn xuất bản lại thông tin trên trang web này.


Trang web được xây dựng từ nền tảng Blogger.com, cung cấp bởi