Thư kêu gọi xây dưng quỹ Tấm lòng vàng họ Phạm Việt Nam.

Kính gửi các tổ chức, cá nhân, các nhà doanh nghiệp
cùng toàn thể bà con họ Phạm trong và ngoài nước.
Trong những năm qua, các hoạt động tình nghĩa của Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam cũng như của các Ban Liên lạc họ Phạm các địa phương, của các Hội đồng gia tộc các dòng họ Phạm cả nước đã có nhiều hình thức phong phú, kết quả thiết thực, cụ thể là đã khen thưởng động viên các cháu có bố hoặc mẹ họ Phạm đạt thành tích cao trong học tập và các hoạt động khác, cấp học bổng cho các cháu vượt khó vươn lên học giỏi, đồng thời trợ giúp cho các gia đình họ Phạm gặp khó khăn đặc biệt. Nhiều tổ chức, cá nhân, nhiều nhà doanh nghiệp, nhà hảo tâm đã đứng ra tài trợ, đóng góp công của cho các hoạt động này, tạo nên tình cảm đồng tộc rất tốt đẹp, đúng với truyền thống văn hiến của Dân tộc ta. Xem tiếp
.
Hiển thị các bài đăng có nhãn *THƯ VIỆN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn *THƯ VIỆN. Hiển thị tất cả bài đăng

20 tháng 12, 2009

Các vị "Tam nguyên" trong lịch sử

Đăng ngày Chủ Nhật, tháng 12 20, 2009 bởi Phạm Đạo · 1 comments

Chúng ta thử cùng nhau điểm lại xem trong Lịch sử Tiên Rồng đã có bao nhiêu Vị Tam Nguyên- nghĩa là cùng một Vị đã đậu Hương nguyên ( hạng 1 khoa thi Hương ), đậu Hội nguyên ( hạng 1 khoa thi Hội ) và đậu Đình nguyên ( hạng 1 khoa thi Đình ) trong suốt quá trình thi cử của mình.

I.- TAM NGUYÊN BẬC ĐỆ NHẤT GIÁP

1/- Triều Mạc : có 1 Vị Tam nguyên 
 - Nguyễn Bỉnh Khiêm ( 1491 - 1585 )

Danh sĩ, tự Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân cư sĩ. Còn có tên khác là Văn Đạt. Ông quê ở làng Trung am, huyện Vĩnh lại, Hải dương.
Năm 1535, ông đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ nhất danh ( Trạng nguyên ),các kỳ thi Hương, Hội, Đình đều đỗ đầu. Ông làm quan đến Tả thị lang bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ.
Tương truyền, thuở trẻ ông có học với Lương Đắc Bằng, được truyền cho quyển Thái ất thần kinh, nên ông rất tinh thông Lý học và Tướng số học.
Ông được phong tước Trình Tuyền Hầu, nên còn gọi ông là Trạng Trình.
Thơ văn còn truyền tụng rất nhiều, gồm bộ Bạch Vân thi tập ( phần Quốc âm ngót 100 bài, phần Hán văn cũng thế ).

2/- Triều Lê Trung hưng : có 1 Vị Tam nguyên
 -Lê Quí Đôn ( 1762 - 1784 )

Nhà văn hóa lớn, thuở nhỏ có tên là Lê Danh Phương, sau đổi là Quí Đôn, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường. Ông quê làng Duyên hà, trấn Sơn nam, nay là Thái Bình.
Năm 1743 ông đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ nhị danh (Bảng nhãn ), [ Khoa thi này không có Trạng nguyên và Thám hoa ].từ thi Hương, thi Hội đến thi Đình đều đỗ đầu. Ông làm quan đến Thị độc tòa Hàn lâm, sung Tư nghiệp Quốc tử giám, sau làm Tổng tài Quốc sử quán, khảo duyệt phần Tục biên Quốc sử.
Ông là một học giả uyên bác, đa dạng và sung mãn nhất của văn hóa VN. Giới nghiên cứu Pháp xem ông như là nhà bác học về lãnh vực văn hóa của nước ta. Công trình trước tác và sáng tác của ông gồm một thư tịch đồ sộ về nhiều bộ môn : lịch sử, đia lý, văn học, ngôn ngữ học, triết học...

3/- Triều Nguyễn : có 1 Vị Tam nguyên
-Phạm Vũ Hàm [ Vũ Phạm Hàm ] ( 1864 - 1906 )

Danh sĩ, tự Mộng Hải, hiệu Thư Trì. Quê thôn Đôn thư, huyện Thanh oai, Hà tây, nay là Hà Nội.
Năm 1892, ông đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ tam danh ( Thám hoa ), -[ Khoa thi này không có Trạng nguyên và Bảng nhãn ], từ thi Hương, thi Hội đến thi Đình đều đỗ đầu ( Tam nguyên ). Ông làm quan đến chức Đốc học Hà Nội, hàm Quang lộc tự Thiếu khanh, kiêm sung quán Đồng văn. Đương thời, giới trí thức rất hâm mộ tài học và đức độ của ông.

Thơ văn còn truyền tụng nhiều vì nội dung, nghệ thuật sâu sắc, có nhiều hình tượng nghệ thuật mà giới yêu thơ thán phục.

Vũ Phạm Hàm nguyên gốc là Họ PHẠM -VŨ. Sở dĩ có tên Vũ Phạm - theo Bản tin Nội tộc Họ Phạm-Vũ năm 2003 - ông là cháu nội Cụ Vũ Đăng Dương ( 1794 - 1852 ) [ tên thật là Phạm-Vũ Cát, khi đi thi chưa có tên trong sổ đinh của Làng nên phải mượn tên người khác. Cụ đỗ Hương Cống năm 1821, từ đó Cụ mang tên đã đăng thí là Vũ Đăng Dương ], khi đi thi Hương, thi Hội, thi Đình phải khai 3 đời, ông Hàm không thể đổi khác Họ của Ông nội được, nên phải lấy tên Vũ Phạm Hàm. Ông thuộc Biệt Chi Vũ-Phạm trong Tộc Phả Họ PHẠM-VŨ, Đôn thư, Thanh oai, Hà Nội.
Vũ Phạm Hàm là vị Tam Khôi cuối cùng của nước VN ta.

II.- TAM NGUYÊN BẬC ĐỆ NHỊ GIÁP ( Học vị Hoàng Giáp )

Có 2 vị đều thuộc Triều Nguyễn, là :
1) Trần Bích San ( 1838 - 1877 ) quê làng Vị xuyên, Nam định, nên gọi là Tam nguyên Vị Xuyên,
2) Nguyễn Khuyến ( 1835 - 1909 ) quê làng Yên đổ, Hà nam, nen cũng goi là Tam nguyên Yên Đổ.
( Tham khảo : - Các Vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám Hoa qua các Triều đại Phong kiến VN, của Trần hồng Đức - Từ điển Nhân vật Lịch sử VN và Từ điển Tác Gia VN của Nguyễn Q. Thắng ).

Tp. HCM, 10/12/2009
Phạm Vũ Động

»»  Đọc tiếp

2 tháng 7, 2009

Bản đồ gia phả

Đăng ngày Thứ Năm, tháng 7 02, 2009 bởi PK.Dương · 1 comments

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu "Bản đồ Gia phả" CHI HỌ PHẠM THÔN LƯƠNG XÁ, XÃ HIỆP CƯỜNG, HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN của một bạn đọc họ Phạm gửi đến chúng tôi.


Bấm vào đây để download file PDF (8mb)

(Sau khi đến trang Mediafire, bấm "Click here to start download..")

hoặc

Mirror 2: bấm vào đây để download
(Bấm chuột phải, chọn "Save target as" or "Save link as")


Bạn đọc quan tâm có thể liên hệ tác giả:

PHẠM ĐỨC THỊNH
Email: ducthinh0362@yahoo.com

»»  Đọc tiếp

9 tháng 5, 2009

Diễn giải bằng thơ chữ Phạm - họ Phạm

Đăng ngày Thứ Bảy, tháng 5 09, 2009 bởi Unknown · 0 comments

 CHỮ PHẠM (范) - HỌ PHẠM

 Một tộc người di trú tới ven sông
Nước đã cạn khô cỏ cháy trên đồng
Chẳng quản nắng mưa đồng lòng hiệp sức
Sông Dĩ hiền hòa đã được khai thông

Cơm chan mồ hôi nhường nhau tấm áo
Để lúa ngô khoai xanh tốt trên đồng
Tộc người ấy lấy họ mình là Phạm
Bộ thảo đầu (1) sông Dĩ (2) nước (3) mênh mông


TP.HCM, 5h15 ngày 9/5/2009
Phạm Đạo


---------------------------

(1) bộ thảo (艹),
(2) chữ Dĩ (已),
(3) bộ thủy (水, 氵).
Chữ Phạm 范 gồm bộ “Thảo” ở trên đầu; bộ “Thủy” ở bên trái và chữ “Dĩ” ở bên phải


 Lời bàn : Một số bà con họ Phạm ta đều muốn hiểu và viết đúng chữ Phạm (范) trong họ Phạm. Vì hiện nay nhiều người không biết chữ Hán nhất là thế hệ trẻ nên muốn minh họa bằng thơ để dễ nhớ dễ thuộc. Thể theo nguyện vọng ấy tôi đã dùng thơ minh họa chữ Phạm (范) theo truyền thuyết bên Trung Quốc. Còn tại sao chúng ta lại dùng chữ này để làm họ Phạm của Việt Nam? Tôi thiển nghĩ đây là hai vấn đề khác nhau. Ngày xưa ông cha chưa có "Văn tự" riêng của mình nên đã dùng chữ Hán . Sau này ta lại dùng chữ "Nôm" cũng xuất xứ từ chữ Hán. Còn dùng chữ Phạm này có nhầm lẫn là gốc họ Phạm của Việt nam là từ Trung Quốc sang hay không?. Theo tôi trong cuốn "Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt" đã có nói : trước đây ta chưa có họ mãi đến thời Hai Bà Trưng mới học người Trung Quốc đặt tên họ cho các dòng họ. Thì việc lấy chữ Phạm (范) này là lẽ bình thường như hiện nay ta dùng chữ "RADIO" thay cho "máy thu thanh" hay chữ "TiVI" thay cho "truyên hình" hoặc "máy thu hình". Trong việc giao lưu văn hóa giữa các dân tộc việc mượn chữ của nhau rồi bản địa hóa hoặc giữ nguyên là một lễ thường tình. Vì vậy dùng chữ (范) này dùng làm họ Phạm của Việt Nam không thể lầm lẫn với Việc họ Phạm ở Việt nam xuất xứ từ Trung Quốc. Đó là thiển nghĩ của tôi mong bà con chỉ giáo.
»»  Đọc tiếp

1 tháng 11, 2007

Bộ sách “HỌ PHẠM TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN VIỆT”

Đăng ngày Thứ Năm, tháng 11 01, 2007 bởi PK.Dương · 0 comments

Năm 2006, nhân Cuộc họp mặt toàn quốc lần thứ X Đại diện các dòng họ Phạm Việt Nam tại quê hương của Thượng thuỷ tổ họ Phạm Việt Nam - Đô Hồ Đại vương Phạm Tu (xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội), Bản thảo lần thứ nhất bộ sách “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt” đã được đưa ra để xin ý kiến.

Căn cứ vào những ý kiến đóng góp của bà con trong họ và nhiều bạn đọc gửi đến, hai vị chủ biên (Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Đại tá CCB Phạm Hồng – Tổng thư ký và CVCC Phạm Cầu – Phó Tổng thư ký kiêm Trưởng ban Tư liệu dòng họ Phạm thuộc BLL họ Phạm Việt Nam) đã tổ chức biên tập lại để sớm có được bộ bản thảo đáp ứng yêu cầu của bà con họ Phạm và đông đảo bạn đọc.

Đến tháng 8 năm 2007, Bản thảo lần thứ hai bộ sách “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt” đã được hoàn thành. Bộ sách này được chia làm 2 tập với gần 1000 trang in khổ giấy 14,5 x 20,5, có nội dung phong phú; các thông tin được cập nhật đến tháng 7 năm 2007, có nhiều ảnh về di tích lịch sử và hoạt động của dòng họ Phạm; bìa sách in màu.

+ Tập thứ nhất, có 6 phần; những phần chính lại được chia thành một số chương  :

Phần I. Sơ lược về họ Phạm Việt Nam.

Phần II. Một số nhân vật thần thoại họ Phạm  từ thời các vua Hùng đến trước khi thành lập Nhà nước Vạn Xuân  (tức là trước khi xuất hiện Danh tướng Phạm Tu  -  giữa  thế  kỷ  thứ  V).

Phần III. Các nhân vật lịch sử - văn hoá họ Phạm Việt Nam từ giữa thế kỷ thứ V đến cuối thế kỷ thứ XX; xếp theo từng thời kì :  ...  Nhà Lý, Nhà Trần, Nhà Hồ và Hậu Trần, Nhà Lê, Nhà Mạc, Vua Lê-chúa Trịnh, Tây Sơn và Nhà Nguyễn,  Thời đại Hồ Chí Minh.

Phần IV. Các nhà khoa bảng họ Phạm thời xưa :
4.1. Các vị họ Phạm đỗ Đại khoa      thời Nho học
4.2. Các vị họ Phạm đỗ  Cử nhân       thời Nguyễn

Phần V. Các chính khách họ Phạm và các vị họ Phạm được Nhà nước vinh phong từ giữa thế kỷ XX đến nay:
5-1 Các Chính khách họ Phạm ;
(Bao gồm các Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và tương đương trở lên).
5-2 Các Giáo sư và Phó Giáo sư  họ Phạm ;
5-3 Các Nhà giáo Nhân dân và Ưu tú họ Phạm ;
5-4 Các Thày thuốc Nhân dân và Ưu tú họ Phạm ;
5-5 Các Anh hùng lực lượng võ trang và Anh hùng lao động  họ Phạm;
5-6 Các vị họ Phạm được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà Nước.
Phần VI. Phụ lục  :     Một số bài viết về họ Phạm.

+ Tập thứ hai.   Gồm 2 phần :

Phần I : Giới thiệu tóm tắt về những dòng họ Phạm đã có liên hệ và gửi tư liệu đến Ban Tư liệu họ Phạm thuộc BLL họ Phạm Việt Nam.

Phần II : Giới thiệu một số Quy ước (có nơi gọi là Tộc ước hay Điều lệ) về tổ chức và hoạt động VIỆC HỌ thời nay.

Nhân cuộc Họp mặt Toàn quốc lần thứ XI Đại diện của BLL và HĐGT các dòng họ Phạm Việt Nam, Thường trực BLL họ Phạm Việt Nam chủ trương phát hành bộ sách “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt” đến các thành viên của BLL họ Phạm Việt Nam, các vị trong BLL họ Phạm của các địa phương, cùng các Tôn trưởng của các dòng họ Phạm, nhằm phục vụ cho việc tra cứu, tìm hiểu về dòng họ, hoặc khi cần thì có tài liệu để làm “Việc Họ”.

Về giá Bộ sách này: nếu nhận sách trực tiếp từ BLL họ Phạm Việt Nam là 90.000 đ/1 bộ; nếu nhận sách qua bưu điện - bưu phẩm ghi số, chuyển thường  là 102.000 đ/ 1bộ, trong đó bao gồm  12.000 đ tiền cước phí Bưu điện)

Dòng họ, Chi họ hoặc các vị Tôn trưởng nào chưa có Bộ sách này, xin liên hệ với ông  Phó Tổng Thư ký kiêm Trưởng ban Tư liệu họ Phạm  thuộc BLL họ Phạm Việt Nam, theo địa chỉ :

“Ông  PHẠM  CẦU, Số nhà 6, ngõ 85, phố Trung Kính, phường Trung Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội.”

Điện thoại: 04. 7843221.
E.mail : phamcau@gmail.com

Ban Tư liệu họ Phạm
thuộc BLL họ Phạm Việt Nam

»»  Đọc tiếp

DANH MỤC TỘC PHẢ, GIA PHẢ VÀ TƯ LIỆU VỀ CÁC DÒNG HỌ PHẠM (4)

Đăng ngày Thứ Năm, tháng 11 01, 2007 bởi PK.Dương · 0 comments

STT
Tên dòng họ, tên vị Khởi thuỷ tổ
(hoặc Thuỷ tổ)

Loại chữ viết và số trang
81
Lịch sử di tích Đền Mây – phư­ờng Lam Sơn, thị xã Hư­ng Yên, tỉnh Hư­ng Yên (Chỉnh lý, bổ sung năm 2003), thờ Danh tư­ớng Phạm Bạch Hổ (thế kỷ thứ 10). Bảo tàng tỉnh Hư­ng Yên biên soạn năm 2003.
Quốc ngữ,
12 trang
82
“Danh tư­ớng Phạm Bạch Hổ – một Thuỷ tổ của họ Phạm Việt Nam, thế kỷ thứ 10”. Tập thể tác giả biên soạn do ông Phạm Cầu chủ biên. Bảo tàng tỉnh Hư­ng Yên xuất bản năm 2005
Quốc ngữ,
174 trang
83
“Trần triều Điện soái Phạm Ngũ Lão (1255-1320). Tổ tiên và hậu duệ”. PGS. TS. Đại tá Phạm Hồng – Trư­ởng BLL hậu duệ Phạm Ngũ Lão biên soạn, phát hành lần thứ 10 năm 2005
Quốc ngữ, 44 trang
84
“Sự tích Thánh mẫu Liễu Hạnh Phạm Tiên Nga” (1434-1473), do Đại tá CAND Phạm Minh Liêm – Tr­ưởng BLL họ Phạm tỉnh Nam Định biên soạn. Câu lạc bộ “Gái đảm dâu hiền” họ Phạm dòng Phạm Xá, Nan Định phát hành năm 2005
Quốc ngữ,
13 trang

85
“Mẫu Liễu sử thi”, do Hồ Đức Thọ s­ưu tầm-dịch thuật-biên soạn. Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc xuất bản, năm 2000
Quốc ngữ,
159 trang
86
“Phạm Nguyên, Phạm Khang ngọc phả ký “ (Ngọc phả chép về Phạm Nguyên và Phạm Khang) thờ tại thôn An Cổ, xã Dị Sử, huyện Thượng Hiền, phủ Thiên Trư­ờng, đạo Sơn Nam, do Đông Các Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn năm 1572.
Chữ Hán,
12 trang.
Bản dịch quốc ngữ
8 trang
87
Tiểu sử tóm tắt cụ Phạm Khánh Ngọc – Thuỷ tổ họ Phạm ở Hoằng Hoá, Thanh Hoá (thế kỷ 15)
Quốc ngữ, 10 trang
88
“Lý triều trung h­ưng Thái tể Phạm Công Trứ (1600-1675)” do BLLhọ Phạm Việt Nam và BLL hậu duệ Phạm Công Trứ tổ chức biên soạn năm 2004
Quốc ngữ,
57 trang
89
“Tư­ liệu về Lý triều Trạng nguyên Phạm Công Bình (thế kỷ 17)” –ngư­ời làng Yên Lạc, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc
Quốc ngữ,
7 trang
90
“Thanh Tĩnh Đại phu Phạm Sùng (1167-1230) và hậu duệ” do Phạm Cầu và Phạm Hồng Vũ biên soạn. Bảo tàng tỉnh H­ưng Yên xuất bản năm 2006
Quốc ngữ,
186 trang
92
Chùa Cổ Pháp – nơi có phủ thờ Lý triều quốc mẫu Phạm Thị Ngà - mẹ của vua Lý Thái Tổ”
Quốc ngữ,
24 trang
93
Tư­ liệu dòng họ Phạm, tập I (tháng 2 năm 1999) gồm nhiều bài viết và sư­u tầm của nhiều tác giả, do Ban tư liệu dòng họ thuộc BLL họ Phạm Việt Nam xuất bản
Quốc ngữ
188 trang
94
Tư­ liệu dòng họ Phạm, tập II (tháng 11 năm 1999), gồm nhiều bài viết và sư­u tầm của nhiều tác giả, do Ban tư liệu dòng họ thuộc BLL họ Phạm Việt Nam xuất bản
Quốc ngữ,
225 trang
95
Tư­ liệu dòng họ Phạm, tập III (tháng 1 năm 2000), gồm nhiều bài viết và s­u tầm của nhiều tác giả, do Ban tư liệu dòng họ thuộc BLL họ Phạm Việt Nam xuất bản
Quốc ngữ,

96
Tư­ liệu dòng họ Phạm, tập IV (tháng 6 năm 2001), gồm nhiều bài viết và s­u tầm của nhiều tác giả, do Ban tư liệu dòng họ thuộc BLL họ Phạm Việt Nam xuất bản.
Quốc ngữ
97
“Văn bia Quán Giá” - Đến thờ T­ướng công Lý Phục Man do Ô. Nguyễn Bá Hân s­ưu tầm và biên soạn. Nhà xuất bản Thế giới xuất bản năm 1995. Quán Giá thuộc thôn Sấu Giá, xã Yên Sở , huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây )
Chữ Hán,
có phiên âm và dịch nghĩa sang tiếng Việt,
255 trang
98
Tộc phả gia đình cụ Phê - rô Phạm Văn Lộc (từ đời thứ IV đến đời thứ VII), quê gốc tại Ninh Bình, do ông Phạm Văn Khoát (đời thứ IV) ở Đồng Nai, Biên Hoà biên soạn.
Quốc ngữ,
316 trang
99
Tư­ liệu về dòng họ Phạm Cập (Phạm Kim Cập, tự Chính Trực) huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Quốc ngữ, 17 trang
100
Tộc phả họ Phạm Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội, Quyển I (Từ đời thứ nhất đến đời thứ 9) và Quyển II (Từ đời thứ 10 đến đời thứ 14), do ông Phạm Quang Đại biên dịch
527 trang, trong đó có 341 trang chưc Hán)
101
“Văn Phú Phạm tộc Gia phả” - từ năm 1600 đến năm 2000 (Văn Phú, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình). Biên soạn từ 1996 đến 2002..
104 trang (trong đó 10 trang chữ Hán)
102
“Tộc phả đại tông họ Phạm ngành Thanh Trà, Xuân Phong, Xuân Trường, Nam Định (1650 – 2005)”. Hoàn thành năm 2006.
306 trang (trong đó có 105 trang chưc Hán)
103
Tộc phả họ Phạm Đắc, Quảng Nạp, Thái Bình
143 trang (có 3 trang chữ Hán)
104
Phạm Tộc Gia phả - dòng họ cụ tổ Hoàng Thiện Hầu - Tướng công Phạm Công Tá ở Hoa Lư, Ninh Bình (nguyên quán: Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội) & “Phạm tộc chi ba biên phả tự ký”
05 trang Quốc ngữ
105
“Phả họ Phạm thôn Đồng Hoà, xã Thuỵ Phong, Thái Thuỵ, Thái Bình”. Hoàn thành năm 2005
120 trang Quốc ngữ
106
“Nguồn gốc và lịch sử Tộc Phạm Viết ở xã Tuý La châu, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” Hoàn thành việc biên soạn năm 2002.
80 trang Quốc ngữ
107
Gia phả họ Phạm Đông Đồ, Đông Anh, Hà Nội, Quyển I – 1460-1880, do ông Nguyễn Huy Thức – chuyên viên thuộc Viện nghiên cứu Hán Nôm sưu tầm và dịch năm 1996.
90 trang viết tay, Quốc ngữ
108
“Tộc phả Họ Phạm thôn Hội Phụ, xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Hà Nội”. Hoàn thành biên tập năm 2002
25 trang, Quốc ngữ


(Hết)
Ghi chú:

1. Vị nào có nhu cầu nghiên cứu những văn bản trên đây, hoặc dịch các bản Gia phả chữ Hán, xin liên hệ với ông Phạm Hồng Vũ – Phó Tổng thư ký kiêm Phó Trưởng ban Tư liệu dòng họ Phạm của Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam.

Địa chỉ: số 10 ngõ 37 phố Đông Tác, Kim Liên, quận Đống Đa, Hà Nội.
ĐT: 04 8524084 hoặc 0989055412
Email: hongvu_pham@yahoo.com

2. Ban Tư liệu mong tiếp tục nhận được Gia phả hoặc các tư liệu của các dòng họ Phạm Việt Nam để phục vụ tra cứu trong nội tộc họ Phạm Việt Nam

Ban Tư liệu
»»  Đọc tiếp

1 tháng 8, 2007

DANH MỤC TỘC PHẢ, GIA PHẢ VÀ TƯ LIỆU VỀ CÁC DÒNG HỌ PHẠM (3)

Đăng ngày Thứ Tư, tháng 8 01, 2007 bởi PK.Dương · 1 comments

STT
Tên dòng họ, tên vị Khởi thuỷ tổ
(hoặc Thuỷ tổ)

Loại chữ viết và số trang
54
Dòng họ Phạm ở An Ninh Hạ, H­­ương Trà, Thừa Thiên Huế. Thuỷ tổ là cụ Phạm Triệt (1550)
Quốc ngữ
5 trang
55
Gia phả họ Phạm ở thôn Nhuộng, xã Yên Trung, Ý Yên, Nam Định. Thuỷ tổ là cụ Phạm Phúc Khánh (khoảng năm 1553)
Quốc ngữ
3 trang
56
Gia phả dòng họ Phạm Bái Công ở làng Bông, Kim Động, Hư­­ng Yên. Thuỷ tổ là cụ Phạm – Nguyễn Thi (thế kỷ 18)
Quốc ngữ 3 trang
57
Gia phả dòng họ Phạm Đình ở xã Thái Hồng, Thái Thuỵ, Thái Bình. Thuỷ tổ là cụ Phạm Võ Tâm (thế kỷ 15)
Quốc ngữ,     2 trang
58
Gia phả họ Phạm ở xã Đình Phùng, huyện Kiến Xư­­ơng, Thái Bình. Thuỷ tổ là cụ Phạm Hiếu Đạo (khoảng năm 1524)
Quốc ngữ, 14 trang
59
Gia phả họ Phạm ở thôn Chùa, Văn Điểm, Ý Yên, Nam Định. Thuỷ tổ là cụ Phạm Tất Hiếu (thế kỷ 18)
Quốc ngữ, 4 trang
60
Gia phả họ Phạm ở thôn Nghĩa Phúc, Cẩm Vũ, Cẩm Giàng, Hải Dư­­ơng. Thuỷ tổ là cụ Phạm Tử Hư­­ (đầu thế kỷ 13)
Quốc ngữ 11 trang
61
Gia phả họ Phạm ở thôn Vị Dư­­ơng, xã Thái Hồng, Thái Thuỵ, Thái Bình (khoảng cuối thế kỷ 14)
Quốc ngữ 2 trang
62
Gia phả họ Phạm thôn Nhất, xã Nam Hồng, Nam Trực, Nam Định (18 đời)
Quốc ngữ 3 trang
63
Gia phả dòng họ Phạm Linh Kiệt, Diễn Châu, Nghệ An. Thuỷ tổ là cụ Phạm Thập (thế kỷ 14)
Quốc ngữ 1 trang
64
Gia phả dòng họ Phạm làng An Mô, xã Triệu Long, Triệu Phong, Quảng Trị. Thuỷ tổ là cụ Phạm Thuận Tình (1520-1582)
Quốc ngữ 1 trang
65
Gia phả họ Phạm thôn Thanh Nộn, xã Thanh Sơn, Kim Bảng , Hà Nam. Thuỷ tổ là cụ Phạm Phúc Hiền (thế kỷ 17)
Chữ Hán
9 trang
Quốc ngữ 33 trang
66
Gia phả họ Phạm thôn Sanh Tý, xã Lạc Đạo, Mỹ Văn, H­ưng Yên. (9 đời). Thuỷ tổ là cụ Phạm Thọ Hiền
Quốc ngữ 2 trang
67
Gia phả dòng họ Phạm Yên Hội, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thuỷ tổ là cụ Phạm Sách (khoảng năm 1550)
Quốc ngữ 1 trang
68
Gia phả dòng họ Phạm ở Lục Nộn, Sơn Nam. Thuỷ tổ là cụ Phạm Do Phúc (18 đời)
Quốc ngữ 1 trang
69
Gia phả họ Pham –Vũ, làng Chuông, Đôn Thư­, Thanh Oai, Hà Tây. Thuỷ tổ là cụ Phạm Trực Hiền (cuối thế kỷ 19)
Quốc ngữ 1 trang
70
Gia phả ho Phạm thôn Chu Cầu, xã Lạc Đạo, huyện Mỹ Văn, Hư­ng Yên. Thuỷ tổ là cụ Phạm Phúc Bình (khoảng 1250)
Quốc ngữ 1 trang
71
Gia phả dòng họ Phạm thôn Ngọc Quả, xã Lạc Đạo, huyện Mỹ Văn, Hư­ng Yên. Thuỷ tổ là cụ Phạm Huyền Hoàng (khoảng năm 1770)
Quốc ngữ
72
Tài liệu về dòng họ Phạm tổng Hoàng Xá, huyện Đại An, tỉnh Nam Định (bản thảo lần thứ 2). Thuỷ tổ là cụ Phạm Đạo Soạn (khoảng năm 1350)
Quốc ngữ 30 trang
73
Gia phả họ Phạm tổng Kiên Lao, xã Kiên Lao, huyện Giao Thuỷ, phủ Xuân Trư­ờng, tỉnh Nam Định (nay là thôn Liên Xá - Xuân Tiến, xã Xuân Kiên, huyện Xuân Trư­ờng , tỉnh Nam Định). Thuỷ tổ là cụ Phạm An Ninh (thế kỷ 18)
Chữ Hán, có phiên âm và dịch Quốc ngữ
13 trang
74
Sơ l­ược Gia phả dòng họ Phạm Đình ở làng Thư­ợng Hội, tổng Thư­ợng Hội, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay là thôn Thư­ợng Hội, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây) – Biên soạn năm 2005. Thuỷ tổ là cụ Phạm Đình Nhân (cuối thế kỷ 10, đầu thế kỷ 11)
Quốc ngữ,
36 trang
75
“Tộc phả Phạm Văn ở Vị D­ương trang, tỉnh Sơn Nam “(nay là thôn Vị D­ương, xã Thái Hồng, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình). Bốn vị Thuỷ tổ của dòng họ là: Phạm Phúc Tinh, Phạm Phúc Tình, Phạm Phúc Thiện, Phạm Vô Vi (thế kỷ 15)
Quốc ngữ,
82 trang
76
Họ Phạm Thái Thuỵ, Thái Bình trong sự nghiệp dựng làng, giữ nư­ớc (tập 1)
Quốc ngữ
109 trang
77
“Di tích lịch sử – nghệ thuật chùa Châu Khê, huyện Bình Giang, Hải Dư­ơng” - quê hư­ơng T­ướng quân Phạm Sỹ và những nghệ nhân mỹ nghệ vàng bạc
Quốc ngữ
22 trang
78
“Tìm hiểu quê hư­ơng Thuỵ Trà, xã Nam Trung, huyện Nam Sách , tỉnh Hải Dương – nơi phát tích của Tư­ớng quân Thái uý Phạm Cự L­ượng (Lạng)”, do TS Nguyễn Đại Diền biên soạn năm 2006
Quốc ngữ,
46 trang
79
“Danh tư­ớng Phạm Tu và họ Phạm trong lịch sử”, do KS Phạm Đình Nhân – Phó trư­ởng ban liên lạc họ Phạm Việt Nam sưu tầm và biên soạn; Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin Hà Nội xuất bản năm 1999.
Quốc ngữ,
392 trang
80
“Danh tư­ớng Phạm Tu (476-545) - Vị khai quốc công thần nhà Tiền Lý. Thượng thuỷ tổ họ Phạm Việt Nam”, do Th­ượng tá KS Phạm Hồng Vũ – Phó tổng thư­ ký Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam biên soạn. Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội xuất bản năm 2003
Quốc ngữ,
153 tran

(Còn tiếp)

Ghi chú:

Ban Tư liệu thuộc BLL họ Phạm Việt Nam mong tiếp tục nhận được Tộc phả, Gia phả và các Tư liệu về dòng họ Phạm của các dũng họ để phục vụ tra cứu trong nội tộc họ Phạm Việt Nam.
»»  Đọc tiếp

1 tháng 5, 2007

DANH MỤC TỘC PHẢ, GIA PHẢ VÀ TƯ LIỆU VỀ CÁC DÒNG HỌ PHẠM (2)

Đăng ngày Thứ Ba, tháng 5 01, 2007 bởi PK.Dương · 0 comments

Số TT
Tên dòng họ, tên vị Khởi thuỷ tổ
(hoặc Thuỷ tổ)
Loại chữ viết và số trang
1
Tộc phả họ Phạm ở Yên Mô Thượng, Yên Mô, Ninh Bình. Thuỷ tổ là cụ Nhàn Ngu (giữa thế kỷ 15)
Quốc ngữ
418 trang
2
Gia phả họ Phạm ở Kẻ Trổ (tóm tắt 18 đời chi trưởng ở xã Đức Nhân, Đức Thọ, Hà Tĩnh). Thuỷ tổ là cụ Phạm Công Chính (thế kỷ 15)
Quốc ngữ
14 trang
3
Giới thiệu Gia phả dòng họ Phạm Gia ở làng Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Thuỷ tổ là cụ Phạm Húng (khoảng năm 1345)
Quốc ngữ
8 trang
4
Gia phả dòng họ Phạm Gia ở làng Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Thuỷ tổ là cụ Phạm Húng (khoảng năm 1345)
Quốc ngữ
14 trang
5
Gia phả (bổ sung) họ Phạm ở Đông Thọ, Phù Ủng, Ân Thi, Hưng Yên. Thuỷ tổ là cụ Phạm Văn Huỳnh (1869 – 1938)
Quốc ngữ
13 trang
6
Gia phả họ Phạm xã Lai Hạ, Kim Động, Hưng Yên (Phạm thị thế hệ, quyển thứ nhất). Thuỷ tổ là cụ Nguyễn Tông (1643-...)
Quốc ngữ (bản dịch từ chữ Hán), 10 trang
7
Tộc phả dòng họ Phạm Hoàng Xá, Đại An, Nam Định (Dự thảo lần thứ nhất). Thuỷ tổ là cụ Phạm Đạo Soạn (khoảng năm 1350)
Quốc ngữ
50 trang
8
Tóm lược Tộc phả dòng họ Phạm Phạm Xá, Ý Yên, Nam Định. Thuỷ tổ là cụ Phạm Đạo Soạn (khoảng 1350)
Quốc ngữ
16 trang
9
Gia phả họ Phạm xã Phương Trung, Thanh Oai, Hà Tây. Thuỷ tổ là cụ Phạm Phúc Uyên
Quốc ngữ
31 trang
10
Gia phả họ Phạm thôn Quỳnh Hưng, xã Quỳnh Bá, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Thuỷ tổ là cụ Phạm Phòng (khoảng năm1471)
Quốc ngữ
33 trang
11
Gia phả họ Phạm xã Tử Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Thuỷ tổ là cụ Phạm Quang Cảnh (1840-1898)
Quốc ngữ
36 trang
12
Gia phả họ Phạm làng An Lạc, quận Hồng Bàng, Hải Phòng. Thuỷ tổ là cụ Phạm Đình Lương (6 đời)
Chữ Hán,
28 trang

13
Gia phả họ Phạm Lịch Bài, Vũ Hào, Kiến Xương, Nam Định. Thuỷ tổ là cụ Phạm Đắc Ngũ (thế kỷ 15)
Chữ Hán,
4 trang
14
Gia phả họ Phạm xã Dị Chế – Thiện Phiến, Tiên Lữ, Hưng Yên (dòng dõi Danh tướng Phạm Bạch Hổ – thế kỷ thứ 10). Thuỷ tổ là cụ Phạm Danh Nho (thế kỷ 17).
Quốc ngữ và chữ Hán,
27 trang
15
Gia phả họ Phạm ở Mã Châu, Duy Xuyên, Quảng Nam. Thuỷ tổ là cụ Phạm Văn Đằng (5 đời)
Chữ Hán,
14 trang
16
Gia phả họ Phạm xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, Hà Bắc. Thuỷ tổ là cụ Phạm Văn L:iêu (7-1457)
Quốc ngữ
12 trang
17
Phả ký về dòng họ Kĩnh Chủ
Chữ Hán,
112 trang
18
Phác thảo phả hệ họ Phạm Kính Chủ
Quốc ngữ
6 trang
19
Tài liệu về gia phả dòng họ Phạm Kính Chủ
Chữ Hán,
30 trang
20
Gia phả họ Pham dòng Phạm Ngộ, Phạm Quá, Kính Chủ , Hải Dương (thế kỷ 14)
Quốc ngữ
60 trang
21
Tài liệu về gia phả có hai Tiến sĩ Phạm Quá, Phạm Ngộ thuộc dòng họ Kính Chủ
Chữ Hán,
80 trang
22
Một số nghiên cứu về dòng họ Kính Chủ (người biên soạn: Phạm Sĩ)
Chữ Hán,
40 trang
23
Một số nghiên cứu bước đầu về dòng họ Kính Chủ (người biên soạn: Phạm Sĩ)
Quốc ngữ
64 trang
24
“Phạm tộc khoa phổ ký” thôn Vạn Điền, xã Lương Điền,...Thuỷ tổ là cụ Phạm Công Thanh (giữa thế kỷ 16)
Chữ Hán,
17 trang
25
Tộc phả đại tông Phạm Xá, Ý Yên, Nam Định (1386-2000). Thuỷ tổ là cụ Phạm Đạo Soạn (giữa thế kỷ 14). Bản chính thức.
Quốc ngữ
192 trang
26
Gia phả họ Phạm ở Hà Nạn, Hải Phúc, Hải Hậu, Nam Định
Chữ Hán
10 trang
27
Giới thiệu sơ bộ về họ Phạm Phúc thôn Nam Huân, xã Đình Phùng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Thuỷ tổ là cụ Phạm Phúc Ngộ (khoảng năm 1532)
Quốc ngữ
9 trang
28
Gia phả họ Phạm xã Nghĩa Lộ, huyện Nghiêu Phong, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh. Thuỷ tổ là cụ Phạm Tử Hư (1208)
Quốc ngữ
8 trang
29
Tộc phả họ Phạm–Nguyễn ở xã Quyết Thắng, huyện Thanh Hà, Hải Dương (tộc phả khoảng 10 đời)
Chữ Hán,
42 trang
30
Gia phả Phạm tộc đại tông làng Phì Cam, xã Vĩnh Thành, huyệnYên Thành, tỉnh Nghệ An (khoảng 10 đời). Thuỷ tổ là cụ Phạm Hữu Đức
Quốc ngữ 73 trang
31
“Phạm tộc di phổ” họ Phạm Dương Xá, xã Vạn An, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Chữ Hán,
34 trang

(Còn tiếp)

Ghi chú:

Ban Tư liệu thuộc BLL họ Phạm Việt Nam mong tiếp tục nhận được Tộc phả, Gia phả và các Tư liệu về dòng họ Phạm của các dũng họ để phục vụ tra cứu trong nội tộc họ Phạm Việt Nam.
»»  Đọc tiếp

1 tháng 2, 2007

DANH MỤC TỘC PHẢ, GIA PHẢ VÀ TƯ LIỆU VỀ CÁC DÒNG HỌ PHẠM (1)

Đăng ngày Thứ Năm, tháng 2 01, 2007 bởi PK.Dương · 0 comments

Để giúp các vị trong dòng họ có nhu cầu nghiên cứu các Tộc phả, Gia phả và Tư liệu về các dòng họ Phạm Việt Nam, chúng tôi xin giới thiệu trong Bản tin nội tộc Thông tin họ Phạm Việt Nam “Danh mục tộc phả, gia phả và tư liệu về các dòng họ Phạm Việt Nam” mà Ban tư liệu thuộc BLL họ Phạm Việt Nam đang lưu giữ. Danh mục này sẽ in kế tiếp trong một số kỳ, bắt đầu từ số 19 – Quý I năm 2007. Nếu vị nào có nhu cầu nghiên cứu cụ thể tài liệu nào, xin liên hệ theo địa chỉ dưới đây:

Ông Phạm Hổng Vũ – Phó tổng thư ký kiêm Phó trưởng ban tư liệu họ Phạm Việt Nam.
Địa chỉ: Số 10 ngõ 37 phố Đông Tác, phường Kim Liên, quận Đống Đa, Hà Nội (cạnh Chợ Kim Liên).
ĐT: 04 8524084 - 0987567217
Email: hongvu_pham@yahoo.com

Ban Tư liệu


Số TT
Tên dòng họ, tên vị Khởi thuỷ tổ
(hoặc Thuỷ tổ)
Loại chữ viết và số trang

1

Tộc phả họ Phạm ở Yên Mô Thượng, Yên Mô, Ninh Bình. Thuỷ tổ là cụ Nhàn Ngu (giữa thế kỷ 15)

Quốc ngữ
418 trang
2
Gia phả họ Phạm ở Kẻ Trổ (tóm tắt 18 đời chi trưởng ở xã Đức Nhân, Đức Thọ, Hà Tĩnh). Thuỷ tổ là cụ Phạm Công Chính (thế kỷ 15)
Quốc ngữ
14 trang
3
Giới thiệu Gia phả dòng họ Phạm Gia ở làng Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Thuỷ tổ là cụ Phạm Húng (khoảng năm 1345)
Quốc ngữ
8 trang
4
Gia phả dòng họ Phạm Gia ở làng Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Thuỷ tổ là cụ Phạm Húng (khoảng năm 1345)
Quốc ngữ
14 trang
5
Gia phả (bổ sung) họ Phạm ở Đông Thọ, Phù Ủng, Ân Thi, Hưng Yên. Thuỷ tổ là cụ Phạm Văn Huỳnh (1869 – 1938)
Quốc ngữ
13 trang
6
Gia phả họ Phạm xã Lai Hạ, Kim Động, Hưng Yên (Phạm thị thế hệ, quyển thứ nhất). Thuỷ tổ là cụ Nguyễn Tông (1643-...)
Quốc ngữ (bản dịch từ chữ Hán), 10 trang
7
Tộc phả dòng họ Phạm Hoàng Xá, Đại An, Nam Định (Dự thảo lần thứ nhất). Thuỷ tổ là cụ Phạm Đạo Soạn (khoảng năm 1350)
Quốc ngữ
50 trang
8
Tóm lược Tộc phả dòng họ Phạm Phạm Xá, Ý Yên, Nam Định. Thuỷ tổ là cụ Phạm Đạo Soạn (khoảng 1350)
Quốc ngữ
16 trang
9
Gia phả họ Phạm xã Phương Trung, Thanh Oai, Hà Tây. Thuỷ tổ là cụ Phạm Phúc Uyên
Quốc ngữ
31 trang
10
Gia phả họ Phạm thôn Quỳnh Hưng, xã Quỳnh Bá, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Thuỷ tổ là cụ Phạm Phòng (khoảng năm1471)
Quốc ngữ
33 trang
11
Gia phả họ Phạm xã Tử Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Thuỷ tổ là cụ Phạm Quang Cảnh (1840-1898)
Quốc ngữ
36 trang
12
Gia phả họ Phạm làng An Lạc, quận Hồng Bàng, Hải Phòng. Thuỷ tổ là cụ Phạm Đình Lương (6 đời)
Chữ Hán,
28 trang

13
Gia phả họ Phạm Lịch Bài, Vũ Hào, Kiến Xương, Nam Định. Thuỷ tổ là cụ Phạm Đắc Ngũ (thế kỷ 15)
Chữ Hán,
4 trang
14
Gia phả họ Phạm xã Dị Chế – Thiện Phiến, Tiên Lữ, Hưng Yên (dòng dõi Danh tướng Phạm Bạch Hổ – thế kỷ thứ 10). Thuỷ tổ là cụ Phạm Danh Nho (thế kỷ 17).
Quốc ngữ và chữ Hán,
27 trang
15
Gia phả họ Phạm ở Mã Châu, Duy Xuyên, Quảng Nam. Thuỷ tổ là cụ Phạm Văn Đằng (5 đời)
Chữ Hán,
14 trang
16
Gia phả họ Phạm xã Xuân Hương, huyện Lạng Giang, Hà Bắc. Thuỷ tổ là cụ Phạm Văn L:iêu (7-1457)
Quốc ngữ
12 trang
17
Phả ký về dòng họ Kĩnh Chủ
Chữ Hán,
112 trang
18
Phác thảo phả hệ họ Phạm Kính Chủ
Quốc ngữ
6 trang
19
Tài liệu về gia phả dòng họ Phạm Kính Chủ
Chữ Hán,
30 trang
20
Gia phả họ Pham dòng Phạm Ngộ, Phạm Quá, Kính Chủ , Hải Dương (thế kỷ 14)
Quốc ngữ
60 trang
21
Tài liệu về gia phả có hai Tiến sĩ Phạm Quá, Phạm Ngộ thuộc dòng họ Kính Chủ
Chữ Hán,
80 trang
22
Một số nghiên cứu về dòng họ Kính Chủ (người biên soạn: Phạm Sĩ)
Chữ Hán,
40 trang
23
Một số nghiên cứu bước đầu về dòng họ Kính Chủ (người biên soạn: Phạm Sĩ)
Quốc ngữ
64 trang
24
“Phạm tộc khoa phổ ký” thôn Vạn Điền, xã Lương Điền,...Thuỷ tổ là cụ Phạm Công Thanh (giữa thế kỷ 16)
Chữ Hán,
17 trang
25
Tộc phả đại tông Phạm Xá, Ý Yên, Nam Định (1386-2000). Thuỷ tổ là cụ Phạm Đạo Soạn (giữa thế kỷ 14). Bản chính thức.
Quốc ngữ
192 trang
26
Gia phả họ Phạm ở Hà Nạn, Hải Phúc, Hải Hậu, Nam Định
Chữ Hán
10 trang
27
Giới thiệu sơ bộ về họ Phạm Phúc thôn Nam Huân, xã Đình Phùng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Thuỷ tổ là cụ Phạm Phúc Ngộ (khoảng năm 1532)
Quốc ngữ
9 trang
28
Gia phả họ Phạm xã Nghĩa Lộ, huyện Nghiêu Phong, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh. Thuỷ tổ là cụ Phạm Tử Hư (1208)
Quốc ngữ
8 trang
29
Tộc phả họ Phạm–Nguyễn ở xã Quyết Thắng, huyện Thanh Hà, Hải Dương (tộc phả khoảng 10 đời)
Chữ Hán,
42 trang
30
Gia phả Phạm tộc đại tông làng Phì Cam, xã Vĩnh Thành, huyệnYên Thành, tỉnh Nghệ An (khoảng 10 đời). Thuỷ tổ là cụ Phạm Hữu Đức
Quốc ngữ 73 trang
31
“Phạm tộc di phổ” họ Phạm Dương Xá, xã Vạn An, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Chữ Hán,
34 trang


(Còn tiếp)

Ghi chú:

Ban Tư liệu thuộc BLL họ Phạm Việt Nam mong tiếp tục nhận được Tộc phả, Gia phả và các Tư liệu về dòng họ Phạm của các dũng họ để phục vụ tra cứu trong nội tộc họ Phạm Việt Nam.
»»  Đọc tiếp
 
Trang web của BLL Họ Phạm Việt Nam chính thức bắt đầu hoạt động từ tháng 2/2005. Xem phiên bản cũ tại đây
Vui lòng để liên kết về nguồn tin nếu bạn xuất bản lại thông tin trên trang web này.


Trang web được xây dựng từ nền tảng Blogger.com, cung cấp bởi