Dư luận Long An đang xôn xao với thông tin một người bán vé số nghèo đưa cho khách 10 tờ vé số trúng thưởng 6,6 tỷ đồng để nhận lại 200 ngàn đồng tiền xổ số, dù khách chỉ “mua thiếu (mua chịu – BT) qua điện thoại”.
Thư kêu gọi xây dưng quỹ Tấm lòng vàng họ Phạm Việt Nam.
Kính gửi các tổ chức, cá nhân, các nhà doanh nghiệpcùng toàn thể bà con họ Phạm trong và ngoài nước.
Trong những năm qua, các hoạt động tình nghĩa của Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam cũng như của các Ban Liên lạc họ Phạm các địa phương, của các Hội đồng gia tộc các dòng họ Phạm cả nước đã có nhiều hình thức phong phú, kết quả thiết thực, cụ thể là đã khen thưởng động viên các cháu có bố hoặc mẹ họ Phạm đạt thành tích cao trong học tập và các hoạt động khác, cấp học bổng cho các cháu vượt khó vươn lên học giỏi, đồng thời trợ giúp cho các gia đình họ Phạm gặp khó khăn đặc biệt. Nhiều tổ chức, cá nhân, nhiều nhà doanh nghiệp, nhà hảo tâm đã đứng ra tài trợ, đóng góp công của cho các hoạt động này, tạo nên tình cảm đồng tộc rất tốt đẹp, đúng với truyền thống văn hiến của Dân tộc ta. Xem tiếp
.
11 tháng 1, 2012
¤ HOME
/
*CHỦ ĐỀ KHÁC
Người bán vé số
Đăng ngày Thứ Tư, tháng 1 11, 2012 bởi Phạm Đạo · 1 comments
Người bán xổ
số “đổi” vé trúng 6,6 tỷ lấy... 200 ngàn đồng
Dư luận Long An đang xôn xao với thông tin một người bán vé số nghèo đưa cho khách 10 tờ vé số trúng thưởng 6,6 tỷ đồng để nhận lại 200 ngàn đồng tiền xổ số, dù khách chỉ “mua thiếu (mua chịu – BT) qua điện thoại”.
Người bán vé số không tham
tiền tỷ này là chị Phạm Thị Lành, 29 tuổi, hiện đang tạm trú tại thị trấn Bến
Lức, huyện Bến Lức, Long An. Do ở quê nhà Đồng Tháp không có đất sản xuất nên
vợ chồng chị Lành tới Bến Lức bán vé số mưu sinh từ nhiều năm nay.
Khoảng 16 giờ ngày 15.11,
còn hơn 20 vé bị ế nên chị gọi điện thoại cho mối quen là anh Đỗ Ngọc Tuấn, 41
tuổi, ngụ khu phố 2, đường Bà Chánh Thâu, thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức -
hành nghề chạy xe ba gác - nài nỉ mua dùm. Anh Tuấn đồng ý mua 20 tờ, gồm ba số
khác nhau. Gọi là “mua” nhưng chỉ là nói qua điện thoại, anh Tuấn cũng chưa trả
tiền và chưa nhận vé.
Chiều
cùng ngày, lốc vé 10 tờ của công ty XSKT tỉnh Bến Tre mang dãy số đuôi X91207
trúng đặc biệt 4 tờ, trúng an ủi 6 tờ. Nhiều đồng nghiệp bán vé số bảo người
mua chưa trả tiền, coi như chưa mua và nói chị Lành toàn quyền định đoạt “số phận”
10 tờ vé số trúng thưởng với giá trị lên đến gần 7 tỷ đồng này.
Tuy nhiên, chị Lành gạt phăng
và cho rằng anh Tuấn là một trong những khách hàng thường xuyên mua vé số ủng
hộ chị. Rất nhiều lần anh mua qua điện thoại và dù không trúng lần nào nhưng
anh vẫn trả tiền sòng phẳng. Do đó, không thể vì tiền mà chị đánh mất chữ tín.
Ngay lập
tức, chị bấm điện thoại gọi anh Tuấn đến quán cà phê để bàn giao số trúng. Cảm
kích trước lòng tốt của người bán vé số, anh Tuấn đã tặng ngay 1 tờ trúng giải
đặc biệt cho người bán vé số nghèo, anh bảo: “Tặng cô một tờ để làm vốn” (BT) .
Theo tìm hiểu của Dân Việt, vợ chồng chị Lành trước đây
sống cùng mẹ ruột là bà Phạm Thị Thèm trong một căn nhà cũ nát rộng chỉ 27m2,
dựng nhờ trên đất của một người thân ở xã Long Khánh A, huyện Hồng Ngự, Đồng
Tháp.
Hai
người anh trai của chị Lành, một người bị tâm thần, một chết sớm trong khi các
chị dâu lại bỏ đi, để lại đến 6 đứa bé côi cút cho bà Thèm và chị Lành nuôi
dưỡng. Do bà Thèm đau ốm liên miên lại không có đất sản xuất nên vợ chồng chị
Lành đang tính tới phương án đưa đại gia đình lên Bến Lức hành nghề bán vé số.
“Hôm
đó tôi để dành cho mình một tờ, lại được tặng thêm một tờ nên đổi thưởng được
gần 3 tỷ đồng. Số tiền này, vợ chồng tôi đem về quê cất nhà mới cho mẹ, số còn
lại gửi ngân hàng lấy lãi nuôi các cháu. Hiện giờ mọi người bảo tôi là “tỷ phú”
nhưng hàng ngày tôi vẫn đi bán vé số để kiếm tiền sinh sống”.
Hỏi có hối tiếc khi giao
hết vé trúng cho người khách dù người này chỉ mua bằng miệng và chưa trả tiền,
chị Lành đáp ngay: “Có cho tôi suy nghĩ thật kỹ thì tôi cũng trả lại cho khách.
Lâu nay họ không thất tín với mình thì mình cũng phãi giữ chữ tín với họ!”▫
BBT (Sưu tầm và giới thiệu)
10 tháng 1, 2012
Giỗ Tổ họ Phạm ở thôn Đồng Đắc
Đăng ngày Thứ Ba, tháng 1 10, 2012 bởi Phạm Đạo · 0 comments
Giỗ Tổ họ Phạm ở thôn Đồng Đắc
Ở vùng Kim Sơn - Phát Diệm tỉnh
Ninh Bình có nhiều thôn, xóm mà bà con họ Phạm đã sinh cơ lập nghiệp
từ lâu đời, có nhiều đóng góp xây dựng bảo vệ đất nước, xây dựng
quê hương, có nhiều nhà thờ của tộc Phạm được con cháu hậu duệ hàng
chục thế hệ xây dựng, bảo tồn , tu sửa ngày một khang trang đẹp đẽ.
Ngày 15 tháng
Chạp năm Tân Mão tức ngày 08- 01- 2012, tại Xóm 5 thôn Đồng Đắc, xã
Đồng Hướng, huyện Kim Sơn , tỉnh Ninh Bình, bà con họ Phạm đã tổ
chức Lễ dâng hương và Lễ giỗ Cụ Tổ Phạm Phúc Khuồng.
Cụ Tổ Phạm
Phúc Khuồng là hậu duệ đời thứ 14 của dòng họ cụ Thủy Tổ Phạm Đạo Soạn ( cụ Thủy Tổ
Phạm Đạo Soạn năm 1386 từ vùng Kính Chủ, Kinh Môn, Hải Dương về lập
ấp tại Phạm Xá, Yên Nhân ,Ý Yên, Nam Định ). Cụ Tổ Phạm Phúc Khuồng
vào thế kỷ 19 từ vùng đất Trà Lũ, Xuân Trung, Xuân Trường, Nam Định đã
cùng con cháu sang khai khẩn và sinh cơ lập nghiệp tại vùng đất Kim
Sơn – Phát Diệm. Hiện nay ông Phạm Văn Tích thuộc ngành Cả, hậu
duệ đời thú 6 làm tộc trưởng, ông Phạm Công Chức cùng nhiều trưởng
các cành, ngành, chi, phái có vai trò tích cực. Hậu duệ của Cụ Tổ
đã sinh sôi phát triển, có khoảng 160 đinh đang sinh sống tại thôn xã
và hàng trăm đinh đang làm ăn phát đạt tại hầu hết các tỉnh trong cả
nước và ở nước ngoài như Liên Bang Nga, Liên Bang Đức, Công Hòa Sech,
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Autralia….Mặc dù ở đâu con cháu
cũng đoàn kết, gắn bó và đều hướng về cội nguồn, góp phần xây
dựng dòng tộc, xây dựng quê hương.
Tại Hà Nội,
mặc dù tham gia nhiều công việc, đóng góp xây dựng nhiều thế hệ nhà
thờ, gia đình ông Phạm Văn Huấn,
gia đình ông Phạm Thanh Hùng và
nhiều gia đình khác . . đã rất tích cực tham gia cũng như động viên
nhiều gia đình con cháu trong họ đoàn kết gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau,
cùng nhau hướng về đất Tổ, xây dựng dòng tộc, xây dựng quê hương.
Hôm nay, về dự
lễ có đoàn đại biểu của Hội Đồng dòng Họ Phạm Đạo Soạn tại Hà
nội do ông Phạm Ngọc Bổn đẫn đầu cùng trên 20 đoàn đại diện con cháu
từ các nơi về dự Lễ. Trước Ban thờ Cụ Tổ, từng đoàn đại diện đã
lần lượt lên kính cẩn dâng hương trong không khí hồn thiêng vang vọng
lời tiên tổ. Sau đó ông trưởng tộc đọc báo cáo ôn lại công lao to lớn
của cụ Tổ và các thế hệ đã nối tiếp nhau xây dựng dòng họ kết
quả như ngày nay là vô cùng to lớn đồng thời đề ra một số hoạt động
và nhiệm vụ cho thời gian tới. Ông Phạm Ngọc Bổn đã thay mặt đoàn
cảm ơn sự tiếp đón ân cần của bà con, động viên bà con quê nhà đoàn
kết, yêu thương, tích cực tham gia xây dựng dòng họ, nối kết dòng họ,
động viên phong trào “ gái đảm – dâu hiền” , chăm lo công tác khuyến
học phát triển nhân tài…phục vụ quê hương, đất nước.
Cuối cùng là
buổi thụ lộc diễn ra vui vẻ, đoàn kết, thắm đượm tình dòng tộc và
tình anh em chia tay trong lưu luyến.
Phạm Văn
Hồng
0912305918
Một số hình ảnh trong Lễ giỗ Tô
Một số hình ảnh trong Lễ giỗ Tô
9 tháng 1, 2012
¤ HOME
/
*CHỦ ĐỀ KHÁC
“Hoàng Sa của An Nam là không tranh cãi”
Đăng ngày Thứ Hai, tháng 1 09, 2012 bởi Phạm Đạo · 0 comments
Tư liệu
“Hoàng Sa của An Nam là không
tranh cãi”
Thanh Tùng
Ngày
3-3-1925, trong báo cáo gửi Toàn quyền Đông Dương về vấn đề chủ quyền Hoàng Sa,
Thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huề khẳng định: Các đảo nhỏ đó bao giờ cũng là sở hữu của nước An Nam, không có sự tranh cãi về vấn
đề này.
Tôi có dự hai cuộc
hội thảo về dòng họ Thân trong lịch sử Việt Nam, và cũng đã có hai bài viết về
nhân vật Thân Trọng Huề. Tôi nhờ NGƯT Thân Trọng Ninh, nguyên Phó Chủ tịch Hội
đồng Thân tộc, tìm kiếm văn bản này của cụ Thân Trọng Huế nhưng chưa có kết
quả. Trong hai lần dự hội thảo tôi được tiếp xúc với bà Yvette Thân Trọng, từ
Pháp về. Bà là hậu duệ của chủ bút tờ Le Monde nổi tiếng, và là con dâu của
Thượng thư Thân Trọng Ngật. Theo đề nghị của chúng tôi bà Yvette đã đến các thư
viện và các cơ quan lưu trữ tài liệu liên quan đến Đông Dương thời thuộc địa.
Bà gửi cho tôi bản photocopy báo cáo số 154-K, ngày 22-1-1929, của Khâm sứ
Trung Kỳ Le Fol gửi Toàn quyền Đông Dương, trong đó có trích dẫn ý kiến nói
trên của cụ Thân Trọng Huề. Văn bản này là một trong 47 phụ lục của cuốn sách Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa, xuất bản tại Paris
năm 1996. Tác giả là Tiến sĩ Monique Chemillier-Gendreau, nguyên Chủ tịch Hội
Luật gia dân chủ Pháp. Cụ Thân Trọng Ninh dịch cho tôi một số phụ lục. Do nhiều
chổ bị mờ nhoè tôi phải đi tìm các tài liệu khác để đối chiếu thì tìm được cuốn
sách này trong tủ sách của nhà nghiên cứu Phan Thuận An. Sách do NXB Chính trị
quốc gia chuyển thể và ấn hành năm 1998. Tôi thấy cần trích dẫn các văn bản của
chính quyền Pháp thời thuộc địa để bảo đảm tính khách quan khi tiếp tục khẳng
định chủ quyền của Việt Nam
về Hoàng Sa và Trường Sa.
Theo báo cáo số
86, ngày 1-5-1949, và báo cáo số 92, ngày 4-5-1909, của Lãnh sứ quán Pháp tại
Quảng Châu gửi về Bộ Ngoại giao; báo cáo ngày 15-10-1930 của Toàn quyền Đông
Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, thì năm 1909 chính quyền tỉnh Quảng Đông
mới bắt đầu có ý đồ khai thác tài nguyên ở Hoàng Sa. Phó Vương lưỡng Quảng đã
cử một đoàn thám sát 15 đảo ở Hoàng Sa. Ngày 19-4-1909 các phái viên đoàn thám sát
nộp cho Phó Vương một báo cáo. Theo đó Phó Vương đưa ra ý tưởng trao cho một tập
đoàn thương gia trách nhiệm khai thác các vùng đất mà ông ta vừa mới đưa vào
lòng thiên triều.
Sau khi củng cố
các chứng cứ pháp lý, chính phủ Pháp đã phản đối các kế hoạch khai thác tài
nguyên và tranh chấp chủ quyền của phía Trung Quốc ở Hoàng Sa với lý do từ khi
có Hiệp ước bảo hộ (Hiệp ước Patenôtre ký tại Huế ngày 6-6-1884) Việt Nam đã
quản lý Hoàng Sa trong thời gian hai thế kỷ, và không có sự tranh chấp nào cả.
Từ triều đại nhà
Thanh trở về trước, kể cả thời Trung Hoa dân quốc, Trung Quốc không có một bộ chính
sử nào chứng minh chủ quyền của họ ở Hoàng Sa. Một đoạn trong báo cáo số 92,
ngày 4-5-1909, của Lãnh sứ quán Pháp tại Quảng Châu cũng đã khẳng định điều
này. Ông Lãnh sự cho biết: Một chiếc tàu, hình như của Nhật, chở các thỏi đồng,
bị đắm ở đó. Chủ tàu bỏ tàu lại. Các công ty bảo hiểm trục vớt hàng. Nhưng khi
họ tới thì các ngư dân đã vớt hết hàng chuyển đi. Sau đó người ta có bằng chứng
là đồng đã chuyển đi Hải Nam.
Công ty bảo hiểm đã thu thập được các biên lai của cơ quan chức năng Trung Quốc
trên đảo đánh thuế nhập số đồng đó. Lãnh sự Anh ở Hải Khẩu đưa ra yêu cầu đòi
bồi thường nhưng bị chính phủ Trung Quốc bác bỏ bằng cách căn cứ vào việc Hoàng
Sa không phải là một bộ phận lãnh thổ của đế quốc Trung Hoa.
Trong khi đó, từ thế kỷ 17 chủ
quyền của Việt Nam về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được ghi chép khá
đầy đủ trong nhiều bộ chính sử. Nhiều cuốn sách địa chí, sử ký, ký sự xuất bản
từ thế kỷ 18 đã ghi chép khá nhiều về sự quản lý của Việt Nam đối với Hoàng Sa.
Đặc biệt có cuốn Hải ngoại kỷ sự, của
một vị cao tăng người Trung Quốc, được chúa Nguyễn Phúc Chu mời đến xứ Đàng
Trong truyền đạo. Đó là Hoà thượng Thích Đại Sán. Ông từ Quảng Đông đến Thuận
Hoá bằng đường biển, qua cảng thị Hội An. Khi trở về cố quốc (1697), cũng bằng đường
biển, ông đã viết Hải ngoại kỷ sự. Đọc Hải ngoại kỷ sự có thể thấy từ trước thế
kỷ 17 nhà nước phong kiến Việt Nam đã thực thi chủ quyền của mình trên một vùng
lãnh hải rộng lớn, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thông qua các
biện pháp thu thuế tàu thuyền buôn nước ngoài; thiết lập đội Hoàng Sa hàng năm
ra khai thác hải sản, tìm vớt cổ vật, hàng hoá ở những chiếc tàu bị đắm. Thích Đại
Sán viết: “Thời quốc vương trước, hàng
năm sai thuyền đi đánh cá đi dọc bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền
buôn tấp vào...”.
Các hoạt động thực thi chủ quyền
ở Hoàng Sa và Trường Sa của triều Nguyễn bị gián đoạn vào cuối thế kỷ 19 khi bị
nước Pháp xâm lược. Đến đầu thế kỷ 20, nhằm ngăn chặn người của các nước khác
chiếm Hoàng Sa, dưới danh nghĩa chính phủ bảo hộ, người Pháp thay mặt “Quốc vương
An Nam” tiếp tục các hoạt động chủ quyền ở quần đảo này. Từ năm 1920 người Pháp
đã thực hiện việc kiểm soát trên biển và kiểm soát hải quan ở quần đảo Hoàng
Sa. Theo báo cáo ngày 20-3-1930 của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc
địa thì hoạt động nghiên cứu kinh tế biển đầu tiên ở Hoàng Sa đã diễn ra vào năm
1925, công việc được tiếp tục vào năm 1927, do Viện Hải dương học và Nghề cá ở
Nha Trang thực hiện. Cũng theo báo cáo này, trước đó, vào năm 1899, toàn quyền Đông
Dương Paul Doumer đã ra quyết định xây một cột hải đăng trên Hoàng Sa, nhưng do
ngân sách khó khăn nên công trình không thực hiện được.
Năm 1925 Toàn quyền Đông Dương ra tuyên bố quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đất của nước Pháp.
Đọc báo cáo ngày 17-12-1928 của
Sở Ngoại vụ gửi Toàn quyền Đông Dương và Bộ trưởng Thuộc địa thì biết rằng Cty
Phốt phát Bắc Kỳ lúc đó đang xin phép được thăm dò và khai thác phốt phát ở một
nhóm đảo tại Hoàng Sa.
Năm 1937, kỹ sư công chính Gaụthier
được chính quyền thuộc địa Pháp giao nhiệm vụ nghiên cứu khả năng xây dựng các
công trình biển và sân bay, và xây dựng một trạm hải đăng trên đảo Hoàng Sa. Năm
1938, 1939 sau kết quả chuyến nghiên cứu mở rộng của Gaụthier, chính quyền bảo
hộ điều động các đơn vị cảnh vệ đến đồn trú tại đảo Hoàng Sa.
Ngày 15-6-1938, sau khi vua Bảo Đại ký tờ dụ
chuyển sự quản lý quần đảo Hoàng Sa từ tỉnh Nam Ngãi về tỉnh Thừa Thiên, Toàn
quyền Đông Dương có Nghị định thành lập một đại lý hành chính trên quần đảo
Hoàng Sa. Ngày 5-5-1939, Toàn quyền Đông Dương sửa đổi Nghị định nói trên bằng
việc thành lập hai đại lý ở quần đảo Hoàng Sa là: đại lý “Lưỡi Liềm và vùng phụ
thuộc”, và đại lý “An Vĩnh và vùng phụ thuộc”. Các viên chức đứng đầu đại lý với
tư cách là người được công sứ Thừa Thiên uỷ nhiệm, có trụ sở lần lượt ở đảo
Hoàng Sa và đảo Phú Lâm. Nghị định này cũng nói rõ người đứng đầu được hưởng
kinh phí đại diện và kinh lý một khoản phụ cấp hàng năm là 400 đồng, trích từ
ngân sách của Trung Kỳ. Sau đó một hải đăng, một trạm khí tượng, một trạm vô
tuyến điện được xây dựng trên Hoàng Sa. Đặc biệt, một tấm bia được dựng trên đảo
Hoàng Sa (Pattle) với nội dung: Cộng hoà
Pháp – Vương quốc An Nam
- Quần đảo Hoàng Sa – 1816 - Đảo Pattle 1938.
Năm 1945 quân Nhật chiếm Hoàng
Sa. Nhưng chỉ hơn một năm sau đó phải rút lui, quân đội Pháp trở lại đồn trú. Năm
1950 chính phủ Pháp chuyển giao quyền quản lý các đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho
chính phủ do Bảo Đại làm Quốc trưởng. Tháng 4-1956, quân đội viễn chinh Pháp
rút khỏi Đông Dương, chính quyền miền Nam Việt Nam cử lực lượng đến thay thế
quân đội Pháp ở Hoàng Sa. Trong khi đó Trung Quốc cũng bí mật cho quân đội đến
chiếm giữ một số đảo ở phía đông Hoàng Sa.
Như vậy, Việt Nam đã
thực thi chủ quyền của mình trên quần quần đảo Hoàng Sa liên tục từ thời các
chúa Nguyễn. Ban đầu Hoàng Sa trực thuộc Quảng Nam thừa tuyên, dưới danh nghĩa nhà
Lê. Thời Tây Sơn và thời nhà Nguyễn triều đình đều duy trì sự quản lý và tiếp tục
tổ chức các đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải làm nhiệm vụ tuần tra và khai thác kinh
tế biển. Thời kỳ thuộc địa Pháp chính phủ bảo hộ thay mặt triều Nguyễn quản lý
Hoàng Sa.
Trong một văn bản ban hành
ngày 25-5-1950 của Bộ Ngoại giao Pháp với tiêu đề “Ghi chú cho vụ châu Á về vấn đề quần đảo Hoàng Sa”, ở mục A có nêu
rõ: Việc chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa do Pháp tiến hành năm 1931, 1932 là “nhân
danh Hoàng đế An Nam”. Trong trường hợp này là việc thi hành chủ quyền có từ trước,
là danh nghĩa riêng của An Nam, và với tư cách là nước bảo hộ, chịu trách nhiệm
về các quan hệ đối ngoại của An Nam, Pháp sử dụng các quyền đó để chống các nước
thứ ba, và có thể nhận được về mặt xét xử quốc tế việc thừa nhận các quyền nói
trên.
Từ 1956 chính quyền Việt Nam cộng
hoà tiếp quản Hoàng Sa. Liên tục bốn thế kỷ Việt Nam không bao giờ ngừng khẳng định
chủ quyền của mình ở Hoàng Sa. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, và thời hậu
chiến, đã tạo ra những cơ hội cho cho lực lượng quân sự một số nước chiếm đóng
một số đảo ở Hoàng Sa. Họ lấy lý do đã chiếm đóng về quân sự trong vài chục năm
để tranh chấp với một nước đã thiết lập chủ quyền liên tục trong bốn thế kỷ như
Việt Nam
là hết sức vô lý.
TH.T
Ảnh:
Đoàn đại biểu Hội động Họ Phạm Việt Nam
chụp ảnh lưu niệm trước
Tượng đài Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải ở huyện đảo Lý
Sơn
Mặt sau lưng tượng đài Đội Hoàng Sa kiêm
quản Bắc Hải khắc dòng chữ Bản quốc hải cương Hoàng Sa xứ tối thị hiểm yếu
(Quần đảo Hoàng Sa là nơi cực kỳ hiểm yếu nơi lãnh hải của quốc gia)
Viếng mộ (cô hồn) Chánh đội Hoàng Sa Phạm
Hữu Nhật ở Lý Sơ
Viếng mộ (cô hồn) cai đội Hoàng Sa Phạm
Quang Ảnh và đồng đội
Bia mộ Phạm Hữu Nhật do Tiến sĩ Nguyễn Nhã
chấp bút
Tác giả trước án thờ Phạm Hữu Nhật
8 tháng 1, 2012
Hòa thượng Bửu Chơn
Đăng ngày Chủ Nhật, tháng 1 08, 2012 bởi Phạm Đạo · 0 comments
Hòa Thượng Bửu Chơn
(1911-1979)
LGT. Nhân ngày Đức Phật Thích ca thành Đạo (mồng 8 tháng Chạp) một ngày Lễ
trọng cuả Phật giáo, BBT xin giới thiệu bài viết về chân dung của một vị Danh
tăng họ Phạm có nhiều công lao với Phật giáo nước nhà, đặc biệt là giúp cho sự
phục hồi Đạo Phậ sau nạn diệt chủng ở Cămpuchia. PTL
Hòa Thượng Bửu Chơn thế danh là Phạm Văn Thông, sinh năm Tân Hợi (1911) tại Sa Ðéc, Ðồng Tháp. Thuở thiếu thời Ngài sinh sống tại đất nước Chùa Tháp Campuchia, do đó Ngài thấm nhuần Phật Giáo Nam Tông, vốn là quốc giáo của Vương quốc này. Sẵn có túc duyên Phật pháp nên vào năm 1940, Ngài xuất gia thuộc hệ phái Nam Tông.
Sau đó Ngài vào rừng chấp trì hạnh đầu đà (Dhutanga) suốt mười hai năm. Năm 1951, Ngài được Phật tử Việt Nam cung thỉnh về Sài Gòn để truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy. Năm 1952, Ngài có duyên lành sang Tích Lan để nghiên cứu Phật học tại trường Dhammaducla Viddhyàlaya trong thời gian hai năm. Ngài cũng đã hành hương sang Ấn Ðộ để chiêm bái các thánh tích và cung thỉnh Ngọc Xá Lợi do Giáo Hội Phật Giáo ở Tích Lan tặng đem về Việt Nam.
Năm 1954, Ngài dẫn đầu phái đoàn Phật Giáo Việt Nam tham dự Hội nghị Kết Tập Tam Tạng Pàli lần thứ 6 tại Rangoon, Miến Ðiện. Ngài là vị Giáo phẩm Phật giáo Việt Nam đã tham gia nhiều hoạt động Phật sự quốc tế. Vào năm 1956, Ngài tham dự Hội nghị Phật giáo Thế giới lần thứ 3 tại Miến Ðiện. Và nhân dịp này Bộ Lễ Miến Ðiện đã trao tặng Ngọc Xá Lợi cho Ngài mang về Việt Nam tôn thờ.
Ngài là thành viên vận động thành lập Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam. Nhiệm kỳ lâm thời Ngài được cử làm Tăng Thống Ban Chưởng Quản vào năm 1957. Trong năm này Ngài dẫn đầu phái đoàn dự lễ kỷ niệm 2.500 năm Phật Giáo tại Campuchia. Ngài dự Hội nghị Phật giáo lần thứ 4 tại Népal và Hội nghị Triết học tại Ấn Ðộ.
Năm 1958, Ngài dự Hội nghị Quốc tế về lịch sử Tôn Giáo Thế Giới lần thứ 9 tại Ðông Kinh, Nhật Bản. Năm 1960 Ngài được bầu làm Phó Chủ Tịch Hội Phật Giáo Thế Giới trong kỳ Ðại Hội lần thứ 5 tại Thái Lan và tham dự Hội nghị Lịch Sử Tôn Giáo Thế Giới lần thứ 10 tại Tây Ðức. Ngài cũng đến các nước Tây Phương: Anh, Ý, Pháp để nghiên cứu các tổ chức Phật Giáo tại các nơi này. Năm 1961 tại Hội nghị Phật giáo Thế giới lần thứ 6 tại Phnôm Pênh, Campuchia, Ngài được bầu vào chức vụ Cố vấn tinh thần tối cao và vĩnh viễn cho Hội Phật giáo Thế giới.
Năm 1962, Ngài đắc cử Tăng Thống Giáo Hội Già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài đã cùng với Hòa thượng Narada (người Tích Lan) vận động xây dựng thắng tích Thích Ca Phật Ðài tại núi Lớn ở Vũng Tàu.
Năm 1963, Ngài giữ chức Phó Chủ Tịch Ủy ban Liên phái Bảo Vệ Phật Giáo chống chế độ nhà Ngô kỳ thị Phật Giáo. Năm 1964, Ngài dẫn đầu phái tham dự Hội nghị Phật Giáo Thế Giới lần thứ 7 tại Ấn Ðộ. Năm 1965 tại Tân Gia Ba, Ngài được bầu làm Chủ Tịch Hội Phật Giáo Thế Giới địa phương và tham dự Hội nghị thành lập Hội Tăng Già Thế Giới tại Tích Lan.
Năm 1966, Ngài dẫn đầu phái đoàn tham dự Hội nghị Phật Giáo Thế Giới lần thứ 8 tại Thái Lan. Năm 1968 Ngài tham dự Hội nghị Lịch Sử Tôn Giáo Thế Giới thứ 12 tại Jerusalem Do Thái. Năm1972 Ngài đảm nhiệm chức vụ Phó Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam. Năm 1979, Ngài đảm nhận chức vụ Cố vấn Ban Chưởng Quản Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam khóa II.
Ngài là một học giả, biết rất nhiều ngoại ngữ như Lào, Thái Lan, Khmer, Miến Ðiện, Tích Lan, Trung Quốc, Pháp, Anh, Ðức, Ý, Nga và Cổ ngữ Pàli. Riêng về Pàli là ngôn ngữ mà Ngài đã dành rất nhiều thì giờ nghiên cứu và đã soạn thành tự điển Pàli. Dù bận rộn Phật sự trong nước cũng như Phật sự quốc tế, Ngài vẫn dành thời gian để phiên dịch và trước tác nhiều kinh sách để hoằng dương giáo pháp, trên dưới 20 tác phẩm.
Ngày 17-9-1979, mặc dù sức khỏe suy kém, Ngài vẫn dẫn đầu phái đoàn Phật Giáo Việt Nam sang thăm hữu nghị, tham dự lễ Dol-ta (lễ lớn của dân tộc Campuchia) tại Campuchia, và đặc biệt là tổ chức lễ truyền giới Tỳ Kheo cho các nhà sư Campuchia. Ngày 19-9-1979 bệnh cũ bộc phát trầm trọng, đến 2 giờ sáng ngày 21-9-1979 (1 tháng 8, Kỷ Mùi), Ngài an nhiên viên tịch tại Phnôm Pênh, hưởng thọ 69 tuổi đời, với 30 tuổi đạo. Trước giờ phút lâm chung, trên giường bệnh Hòa thượng vẫn còn tỉnh táo nghe các thành viên trong đoàn báo cáo buổi lễ Dôn-Ta và lễ Truyền giới viên mãn cho 7 vị sư Campuchia, mở đầu kỷ nguyên phục hồi nền Phật Giáo xứ Chùa Tháp.
Ngài là một tấm gương sáng về phương diện hoằng pháp lợi sanh. Công hạnh Ngài còn tỏa rộng ra thế giới, và còn lưu lại trong mỗi bước hành trì giới pháp độ sanh của những người có lòng vị tha và chí tìm cầu giải thoát.
Các tác phẩm của Ngài còn để lại trong sự nghiệp sáng tác phiên dịch là:
- Cư
Sĩ Thực Hành.
- Tứ Thanh Tịnh Giới.
- Pháp Xa.
- Chuyển Pháp Luân.
- Bồ Tát Khổ Hạnh.
- Hàng rào giai cấp.
- Niệm Thân.
- Chánh Giác Tông.
- Tội Ngũ trần.
- Truyện Ngạ Quỷ.
- Quả Báo Sa Môn.
- Nhân Quả Liên Quan.
- Kho tàng Pháp Bảo.
- Pháp Ðầu Ðà.
- Hội Nghị Quốc Tế.
- Văn Phạm Pàli.
- Ðịnh luật thiên nhiên của vũ trụ.
- Tự Ðiển Pàli.
Phạm Ngọc Sơn
Cư M’Ga – Đắc Lắc
(sưu tầm)
7 tháng 1, 2012
Đăng ngày Thứ Bảy, tháng 1 07, 2012 bởi Phạm Đạo · 0 comments
HUYỀN SỬ
CON RỒNG CHÁU TIÊN -
CON RỒNG CHÁU TIÊN -
GỐC TÍCH CỦA RỒNG VIỆT
Việt Nam
là đất nước của “Con Rồng Cháu Tiên” với huyền thoại khởi nguyên:
1/- KINH DƯƠNG VƯƠNG
Vua đầu tiên nước ta – Kinh Dương Vương (Lộc Tục) là cháu
bốn đời Viêm Đế Thần Nông – vị thần coi nghề nông ở trên trời. Ông là Tổ thứ nhất
của dân tộc Việt Nam,
họ Hồng Bàng dựng nước. Dựa vào truyền thuyết, sách Đại Việt Sử ký Toàn thư của Ngô
Sĩ Liên viết rằng: Lộc Tục lên làm vua vùng đất phía nam núi Ngũ Linh (Quảng Đông)
vào khoảng năm Nhâm Tuất (2879 TCN). Lộc Tục lấy hiệu là Kinh Dương Vương, đặt
quốc hiệu là Xích Quỷ. Cương vực Xích Quỷ khá rộng lớn, phía bắc là núi Ngũ Linh,
phía nam giáp nước Hồ Tôn (sau này là vương quốc Champa), phía tây giáp Ba Thục
(Tứ Xuyên) và phía đông là biển Nam Hải. Nước Hồ Tôn (Phú Yên đến Quảng Ngãi): thời vua Hùng biên
giới phương nam nước ta chỉ đến đèo
Hải Vân. Bên kia đèo này là tỉnh Bình Thuận ngày nay, lúc ấy là nước Hồ Tôn của người Chăm. Gọi là nước nhưng thực chỉ là một
liên minh bộ lạc lớn là bộ lạc Cau (vùng từ Phú Yên đến Bình Thuận) và bộ lạc Dừa (vùng
Quảng Nam
- Quảng Ngãi) cùng nhiều bộ lạc nhỏ khác. Khi nhà Hán xâm chiếm nước
ta thì chiếm luôn nước Hồ Tôn lập thành huyện Tượng Lâm, thuộc quận Nhật Nam.
Dân Tượng Lâm từng hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Kinh Dương Vương lấy con gái của Chúa hồ Động Đình là Thần
Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua.
2/- LẠC LONG QUÂN
Sùng Lãm lên làm vua thay Kinh Dương Vương, lấy hiệu là Lạc
Long Quân. Tương truyền rằng Lạc Long Quân có gốc Rồng từ dòng họ của mẹ nên
thường ở dưới động nước. Khi người dân có việc cần giải quyết, thường đến trước
động nước kêu to lên: “Bố ơi, ở đâu? Hãy đến với ta”. Thế là Lạc Long Quân
liền lên cạn giải quyết mọi việc khó khăn cho dân chúng. Truyền thuyết được ghi lại trong Lĩnh Nam Chích Quái thời
Trần kể rằng: Lạc Long Quân đi tuần thú gặp Âu Cơ ở động Lăng Xương kết làm vợ
chồng, đưa về núi Nghĩa Lĩnh. Âu Cơ sinh được một bọc trăm trứng, nở thành trăm con
trai. Khi các con khôn lớn, Lạc Long Quân nói: “Ta là giống Rồng, nàng là giống
Tiên, không thể ở lâu với nhau được”. Bèn chia 50 con cho Âu Cơ đem lên núi, còn Lạc
Long Quân dẫn 49 người con xuống biển, để lại người con cả nối ngôi, hiệu là Hùng
Vương, đặt tên nước Văn Lang, đóng đô ở thành Phong Châu, truyền được 18 đời đều gọi
là Hùng Vương. Cũng từ truyền thuyết này mà người Việt chúng ta vẫn cho
rằng Tổ Tiên của mình là Tiên Rồng.
Trong ca dao dân gian có bài ca về sự tích “Trăm trứng trăm
con” giàu tính sử học: Gần đàng xa ngõ thiếp nghiêng tai chàng tỏ thiếp tường, Lạc Long Nam Việt gặp nàng Âu Cơ.
Dạo chơi sơn thủy dật dờ,
Đạp nhằm dấu thỏ một giờ thọ thai.
Nở ra nửa gái nửa trai sẵn sàng,
Nửa thì qui phụng rồng loan.
Nửa theo quê mẹ cho nhàn tấm thân.
Thiếp hỏi chàng, chàng nói từng câu
Hỏi thăm thiếp lại Tí Mẹo Dần ai sanh ?
3/- HÙNG VƯƠNG
Người con cả được tôn làm vua, gọi là Hùng Vương, Đó là Hùng
Vương thứ nhất, mở đầu một thời đại mà sử sách gọi là thời đại Hùng Vương. Nhà vua đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (Phú
Thọ ngày nay), truyền ngôi được 18 đời, từ đời thứ nhất đến đời thứ 18 là Hùng
Duệ, đều gọi là Hùng Vương.
Các tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, con
trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan nhỏ gọi là Bố
Chính. ( Do ngôi Hùng Vương cha truyền con nối được 18 đời, nhưng
kéo dài hơn 2 000 năm làm có nhiều người hoài nghi và đưa ra nhiều cách giải thích
khác nhau. Trong truyền
thuyết con số 9 và bội số của 9 (18, 36…999…)thường mang
tính chất biểu tượng (số thiêng) chứ không có ý nghĩa toán học. Phải chăng 18 đời
vua chỉ mang ý nghĩa là Nhiều đời, truyền nối lâu dài). Đến nay di tích thời đại Hùng Vương hãy còn trên đỉnh Hùng
Sơn (Núi Hùng) cách Hà Nội 97km, cũng gọi là Núi Đền, Nghĩa Lĩnh hay Nghĩa Cương.
Bia 4 chữ lớn “Cao Sơn Cảnh Hùng”. Hiện nay, tại xã Hy Cương, huyện Lâm Thao còn có
phần mộ và Đền vua Hùng. Tại huyện Bạch Hạc, Vĩnh Yên có Đền lớn thờ các
vua Hùng, tương truyền dựng trên nền cung điện xưa.
4/- GỐC TÍCH CỦA RỒNG VIỆT
Trong 12 con giáp, Rồng là con duy nhất không tồn tại trong
giới tự nhiên. Đấy là một sáng tạo nảy sinh từ trí tưởng tượng của con người. Trong
khi phương Tây hình dung Rồng là con vật thần thoại đầu chó, cánh dơi, vuốt sư tử,
đuôi rắn, tượng trưng cho sức mạnh ma quỷ, chuyên quấy rối, hại người…thì phương Đông
coi Rồng là con vật linh thiêng, tượng trưng cho vẻ đẹp hoàn mỹ và sức mạnh phi
thường. Dưới các vương
triều phong kiến Việt Nam, Rồng trở thành một biểu tượng cao
quý, một môtip trang trí trang trọng, gắn với quyền lực tối cao của Vua chúa. Người ta vẫn thường khẳng định gốc tích con Rồng – hay đúng
hơn, gốc tích của hình tượng con Rồng – là ở Trung Quốc. Tuy nhiên, từ việc khảo
cổ, những chứng cứ về nguồn gốc phương Nam của con Rồng cũng không phải là ít.
- VIỆT NAM VỚI HUYỀN SỬ RỒNG TIÊN:
Nước ta là đất nước của con Rồng cháu Tiên, với huyền thoại
khởi nguyên Lạc Long Quân (bố Rồng) lấy bà Âu Cơ (mẹ Tiên) đẻ ra trăm trứng nở
trăm con, thủy tổ của nòi giống Việt. Từ khi dựng nước, người Việt cổ đã có tục vẽ
mình (xăm hình Rồng trên mình) để chống lại các loài thủy quái. Đến đời Trần, tục vẽ
mình vẫn phổ biến từ vua đến dân, như nhận xét của vua Trần Nhân Tông: “Nhà ta vốn là người ở vùng hạ lưu, đời đời ưa chuộng hùng
dũng, nếp nhà theo nghề võ nên xăm hình Rồng vào đùi để tỏ lòng là không quên gốc”. Phải chăng người xưa đã lấy tên Rồng để chỉ một loài bò sát
cổ đại mà thời ấy gọi là Thuồng luồng, cũng có thể là rắn nước hay cá sấu – những con
vật mạnh mẽ, to lớn, dữ tợn thường gặp trên sông nước ? Chưa rõ, chỉ biết rằng
nhiều đình chùa ở miền Bắc nước ta có tục thờ Thần rắn. Rắn (hoặc Rồng) đã trở
thành một đối tượng được người Việt cổ tôn sùng và thần thánh hóa. Măt khác, trên một lưỡi qua Đông Sơn phát hiện ở núi Voi (
Kiến An, Hải Phòng ) có khắc rất đẹp hình ảnh một con cá sấu mõm dài, mình dài, chân
ngắn, có nhiều khả năng biểu hiện hình dạng những con Rồng đầu tiên. Cũng trên một
số mũi giáo đồng, một số tấm đồng che ngực, một số mặt trống đồng thời Đông Sơn,
không ít lần xuất hiện hình con vật thân dài, đuôi đôi khi cong, mình đôi khi giao nhau
đối xứng, có giá trị trang trí cao như hình Rồng ở những thế kỷ sau. Thêm nữa, nhìn lại
hình ảnh con Rồng Việt ở buổi đầu của lịch sử, dễ dàng nhận ra cái dáng thon thả,
tròn trặn với nhiều khúc uốn lượn thoăn thoắt, dài và nhỏ đều dần về phía đuôi, rất gần
với con Rồng thời Lý. Tuy chúng ta chưa vội khẳng định con Rồng Việt có tiền thân
là con cá sấu hay một loài rắn nước cổ đại sống ở các sông ngòi vùng nhiệt đới, những
chứng cứ khảo cổ học, phong tục học nêu trên cũng là chỗ dựa đáng tin cậy cho
chúng ta một Nhận thức rằng hình ành con Rồng không nhất thiết được du nhập từ Trung
Quốc với văn hóa Hán tộc, mà rất có thể có nguồn gốc bản địa – từ phương Nam – để rồi
từ đó truyền đi.
- RỒNG TRONG TIỂU THUYẾT TRUNG QUỐC:
Tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung cũng thường nhắc đến con
Rồng. Ta có thể dễ dàng bắt gặp Hàng long thập bát chưởng với Kiến long tại điền,
Tiềm long thăng thiên, Giao long xuất hải, Thần long bái vĩ, Phi long tại thiên,
Kháng long hữu hối…Đây là tên các thế võ phỏng theo tên gọi các quẻ trong Kinh Dịch.
Ngay móng vuốt của Rồng cũng hình thành môn võ công: Long trảo thủ, Long tượng
chưởng, Cầm long công …Mà Rồng là con vật chỉ có trong linh thoại, đứng đầu Tứ linh
“Long, lân quy, phụng”. Đưa con Rồng vào trong tiểu thuyết võ hiệp, Kim Dung đã đưa con
người trở về với thế giới linh thoại, một thế giới vượt xa hiện thực, ở ngoài thế giới
hiện thực.
- RỒNG VIỆT CÓ BẢN SẮC RIÊNG:
Chúng ta thấy con Rồng thời Lý vừa chịu ảnh hưởng hình thể
Rồng đời Tống, lại vừa có nhiều nếp uốn tương tự như một kiểu hoa văn khắc trên một
khuôn đất nung ở di chỉ văn hóa Hòa Bình ( Thanh Hóa ). Những con Rồng đời sau
tiếp tục biến đổi ngày càng có khuynh hướng gần hơn với Rồng Hán tộc về những điểm
chủ yếu. Tất nhiên qua sự rung động hoa mỹ của mình, những nghệ sĩ Việt Nam vẫn
để lại dấu ấn Việt
Nam trên con Rồng đó. Mỗi hiệp thợ, mỗi nghệ nhân trong từng
thời kỳ đều có những sáng tạo riêng, các phong cách đó đan xen vào nhau để phát
triển. Ví dụ như trong khu vực Lam Sơn ( Thanh Hóa ), những con Rồng trên văn bia Vĩnh
Lăng được chạm theo kiểu con Rồng thời Lý, còn cặp Rồng đá đứng trước điện chính
lại vừa đưa một chân trước vuốt râu và có thân hình chắc khỏe của con Rồng thời
Lê. Hay đầu Rồng bằng đá nung thời Trần tìm được ở gần chùa Côn Sơn ( Hải Dương ) có
dạng như đầu một con trâu được cách điệu hóa “nom hiền lành ngộ nghĩnh, hàm dưới
có mười răng dẹt kiểu răng bàn cuốc và môi trên kéo dài, cuộn lại như cái vòi”,
khác hẳn đầu Rồng đất nung tìm thấy ở Lam Kinh (di tích kỷ niệm Lê Lợi)…
- TÓM TẮT:
Điều chắc chắn là từ ngàn xưa, hình tượng con Rồng thần
thoại đã là một biểu tượng quan trọng trong nền văn hóa Việt Nam. Không gian tung hoành
của Rồng thật rộng lớn, tuyệt đối: mặt đất, dưới nước, trên không. Biết bao tên
núi ( Long Đại sơn ), tên sông ( Cửu Long giang ), vịnh biển ( Hạ Long, Bái Tử Long ),
đảo ( Bạch Long Vĩ ), vùng đất ( Hàm Rồng ), kinh đô ( Thăng Long )…gắn liền với
hình ảnh Rồng – con vật thần thoại, linh thiêng thân quen mà cao quý ấy. (Tham khảo nhiều sách báovà sách Lịch Sử Việt Nam)
PHẠM VŨ
6 tháng 1, 2012
Tin hoạt động của họ Phạm Phúc Hải Trương Xá
Đăng ngày Thứ Sáu, tháng 1 06, 2012 bởi Phạm Đạo · 0 comments
HỌ PHẠM PHÚC HẢI TRƯƠNG XÁ,
LÀM LỄ DÂNG TỘC PHẢ VÀ KHÁNH THÀNH
MỘ ĐÁ NGHĨA SĨ CẦN VƯƠNG PHẠM BÀNH
Ngày 19.12.2011, tại Nhà thờ họ Phạm Phúc
Hải, thôn Trương Xá, nay là thôn Tam Hòa, xã Hòa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh
Hóa, quê hương chốn tổ của Nghĩa sĩ Cần vương Phạm Bành, lãnh tụ Khởi nghĩa Ba
Đình lịch sử, đã diễn ra buổi lễ con cháu dâng cuốn tộc phả mới hoàn thành và
lễ khánh thành ngôi mộ đá của Nghĩa sĩ Cần vương Phạm Bành, lãnh tụ khời nghĩa
Ba Đình và là người con đời thứ 10 của dòng họ.
Cuốn Tộc phả họ Phạm Phúc Hải Trương Xá
do Ông Phạm Đình Nhân, nguyên Phó Trưởng ban thường trực Ban Liên lạc họ Phạm
Việt Nam, Chủ tịch Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật, là hậu duệ của danh nhân
Phạm Thận Duật thuộc dòng họ Phạm Nhàn Ngu,Yên Mô, Ninh Bình và là chắt ngoại
cụ Phạm Bành đã phát tâm biên soạn sau gần 3 năm sưu tầm tư liệu. Ngôi mộ Nghĩa
sĩ Cần vương Phạm Bành cũng được gia đình ông Phạm Đình Nhân phát tâm công đức
làm bằng đá trắng Thanh Hóa nguyên khối lắp ghép.
Đông đảo con cháu dòng họ Phạm Trương Xá và
một số con cháu dòng họ Phạm Yên Mô từ Ninh Bình đã về tề tựu trước Nhà thờ tổ
làm lễ dâng hương. Ông Phạm Đình Nhân, người biên soạn cuốn tộc phả đã trình
bày những suy nghĩ, cảm xúc của mình từ khi lần đầu tiên tìm về được quê Cụ
ngoại và quá trình biên soạn cũng như bày tỏ tâm nguyện đã phát tâm được tu bổ
ngôi mộ cụ Phạm Bành và lầm lễ dâng cuốn tộc phả lên ban thờ. Ông Phạm Văn Hiền,
Trưởng phòng Thương Mại huyện Bá Thước, Thanh Hóa là tộc trưởng dòng họ Phạm
Phúc Hải Trương Xá đã phát biểu trước bà con
và thay mặt bà con trong họ cảm ơn tấm lòng hiếu nghĩa của gia đình ông
Phạm Đình Nhân đã dành nhiều tâm lực và tài lực cho dòng họ.
Buổi chiều, mọi người ra Khu mộ chứng kiến
việc thi công lắp ghép mộ đá. Sau khi hoàn thành, bà con đã làm lễ tạ, khánh
thành ngôi mộ. Đây là ngôi mộ bằng đá trắng có kích thước 3,64 x 2,40 x 1,16 m,
nằm trong khuôn viên rộng 84m2.
Tân Minh
Một số hình minh họa
Các cuốn tộc phả
Bà con đang xem bảng Phả đồ dòng họ
Bà con trò chuyện sau khi thụ lộc
Ngôi mộ Nghĩa sĩ Cần vương Phạm Bành bằng đá trắng
2 tháng 1, 2012
¤ HOME
/
*CHỦ ĐỀ KHÁC
Chúc mừng hai cụ song toàn thọ trên trăm tuổi
Đăng ngày Thứ Hai, tháng 1 02, 2012 bởi Phạm Đạo · 1 comments
Chúc mừng hai cụ song toàn
thọ trên trăm tuổi
Đó
là hai cụ: cụ ông Phạm Trì, pháp danh Thich Giác Hành, sinh năm Canh Tuất -
1910, 102 tuổi và cụ bà Nguyễn Thị Nhì, pháp danh Thích Nữ Giác Nhãn, sinh năm
Nhâm Tý - 1912. Hai cụ quê ở làng La Qua, xã Điện Minh, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam.
Hai cụ cùng xuất gia đầu Phật từ năm 1992. Đến
năm 2008 thì theo con trai vào sống tại số nhà 20 Bùi Thị Xuân, khu 4, Thị trấn
Quảng Phú, huyện Cư M’ga, tỉnh Đắc Lắc cho đến nay.
Hai cụ sinh được 8 người con - 5 gái 3 trai,
xơ sảy mất người con trai thứ 6 (gọi thứ tự theo cách của người miền Nam), nay
còn 7chị em, bà con gái đầu sinh năm Quý Mùi - 1943 và con trai út sinh năm Quý
Mão -1963. Hai cụ hiện ở cùng với con trai thứ Tám, có con gái thư Tư ở cùng để
trông nom.
Cụ ông hiện nay vẫn khỏe mạnh
ở tuổi 102. Cụ mỗi ngày ăn ba bữa, mỗi bữa một chén cơm, sau đó cụ say sưa đọc
sách. Anh Tám Sơn (Phạm Ngọc Sơn, sinh
năm 1959, bạn đọc của Bản tin Nội tộc), người đang trực tiếp nuôi 2 cụ, kể rằng:
“Đến bữa, ba em ăn ngon lành và như nghiền đọc sách, không thể rời sách ra được,
ba em đọc suốt ngày”. Cụ bà thì trước khi bị gãy cổ xương đùi tháng 8.2011 vẫn
khỏe mạnh, nhưng nay thì đi lại khó khăn, cầu mong cụ sớm bình phục!.
Năm
2010, Ủy Ban MTTQ tỉnh Đắc Lắc và Hội Người Cao tuổi đã tổ chức mừng thọ và
trao quà của Chủ tịch nước cho các cụ.
Được biết các cụ qua anh Sơn,
vài năm nay tôi vẫn theo dõi tình hình sức khỏe của hai cụ! Chúc mừng hai cụ và
gia đình! Xin kính chúc hai cụ mạnh khỏe và trường thọ!
Phạm Thị Thúy Lan
Thông báo của Chủ tịch HĐTQ Họ Phạm VN
Đăng ngày Thứ Hai, tháng 1 02, 2012 bởi Phạm Đạo · 3 comments
THÔNG BÁO
»» Đọc tiếp
của Chủ tịch Hội đồng toàn quốc họ Phạm Việt Nam
Mọi liên hệ với PGs.Ts. Phạm
Đạo, Chủ tịch Hội đồng toàn quốc Họ Phạm Việt Nam, kiêm TBT website hophamvietnam.org xin theo các dữ liệu sau:
- Điện thoại di động: 0913200158
- Điện thoại bàn: Hà Nội: 04.38353903 - Tp.HCM:
08.54050364
PGs.Ts Phạm Đạo
1 tháng 1, 2012
Chúc mừng năm mới - 2012
Đăng ngày Chủ Nhật, tháng 1 01, 2012 bởi Phạm Đạo · 1 comments
Đón chào Năm Mới Nhâm Thìn - 2012
Năm Tân Mão - 2011 sắp qua, Năm Mới Nhâm Thìn –
2012 sắp đến. Chưa bao giờ việc họ của chúng ta lại có nhiều niềm vui liên tiếp
như lúc này!
Năm
thứ 15 hoạt động việc họ của chúng ta được ghi vào lịch sử như một năm có rất
nhiều sự kiện lớn, triển khai nhiều hoạt động cả về chiều rộng và chiều sâu, tổ
chức phát triển cả về quy mô và chất lượng.
Sự
kiện nổi bật nhất năm qua là Lễ Kỷ niệm 15 năm thành lập Ban Liên lạc họ
Phạm Việt Nam (24.10.1996 - 24.10.2011) và Hội nghị lần thứ 2 Ban Liên lạc Toàn
quốc khóa VI với việc thông qua Quy chế Tổ chức và hoạt động mới,
đổi tên Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam thành Hội đồng họ Phạm Việt Nam.
Trong dịp này, chúng ta đã tổng kết một cách sâu sắc và toàn diện hoạt động
việc họ trong 15 năm qua, rút ra những Bài học lớn làm cơ sở cho việc phát
triển tổ chức và hoạt động việc họ trong thời gian tới. Lễ Vinh danh các vị
tiền bối có nhiều đóng góp cho việc họ thật cảm động, là sự tri ân của cả họ
với những người tâm huyết mở đầu cho hoạt động việc họ phát triển tốt đẹp như
ngày nay. Việc đổi tên Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam thành Hội đồng họ Phạm
Việt Nam cùng với việc thông qua Quy chế Tổ chức và hoạt động mới không chỉ là
thay tên gọi mà là đánh dấu một sự phát triển về chất, với hệ thống tổ chức
ngành dọc theo 5 cấp trên quy mô cả nước.
Năm 2011 đánh dấu sự
phát triển rầm rộ hoạt động việc họ ở các địa phương. Nhiều Ban Liên lạc,
nhiều Hội đồng họ Phạm mới thành lập hoặc tổ chức Đại hội để đổi mới, nâng cao
quy mô và chất lượng hoạt động tại nhiều tỉnh, thành phố, nhiều huyện, thị xã
như tỉnh Nam Định, tỉnh Thái Bình, tỉnh Quảng Ninh, tỉnh Hòa Bình, tỉnh Quảng
Ngãi, tỉnh Thừa Thiên – Huế, vùng Kinh Bắc, vùng Quảng Nam - Đà Nẵng, thành phố
Hồ Chí Minh, huyện Quảng Điền, huyện Hoài Ân, An Lão, huyện Thuận Thành, thị xã
Từ Sơn, quận Hà Đông, quận Đống Đa, thành phố Hà Giang, thành phố Uông Bí,
huyện Vũ Thư, v.v…
Lễ
Vinh danh nhân tài họ Phạm và Lễ ra mắt Quỹ Tấm lòng vàng họ Phạm Việt Nam tại
Văn Miếu - Quốc Tử Giám ngày 29.5.2011 là một sự kiện lớn đánh dấu một
bước phát triển mới của hoạt động việc họ. Lần đầu tiên chúng ta tổ chức một
hoạt động xã hội có qui mô toàn quốc gây được tiếng vang lớn, đáp ứng tâm
nguyện của bà con họ Phạm và được sự đồng tình hưởng ứng của xã hội. Việc các
phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, truyền hình thông tin rộng rãi về
buổi Lễ, về hoạt động khuyến học, khuyến tài, trợ giúp đồng bào gặp khó khăn…đã
quảng bá hình ảnh của Ban Liên lạc họ Phạm Việt Nam như một tổ chức xã hội có
uy tín, được dư luận đánh giá cao, được đông đảo bà con và các tổ chức khác
biết đến.
Sau
buổi lễ ra mắt, Quỹ Tấm lòng vàng họ Phạm Việt Nam tiếp tục hoạt động thường
xuyên. Nhiều ủy viên thường trực BLL Toàn quốc đã đến tận nhà, trao tận tay
những người không có điều kiện đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám nhận bằng Vinh danh,
phần thưởng, học bổng, tiền trợ giúp. Các đối tượng được nhận rất cảm động.
Nhiều BLL các địa phương được ủy quyền thay mặt BLL Toàn quốc tổ chức trọng thể
các buổi lễ trao thưởng hoặc trợ cấp khó khăn của Quỹ Tấm lòng vàng, có chính
quyền, đoàn thể, ban ngành địa phương tham dự, gây được tiếng vang tại địa phương.
Đặc biệt, các BLL đã nhạy bén nắm tình hình, khi có đối tượng xứng đáng được
các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin, đã kịp thời biểu dương, thăm hỏi
trợ giúp như trường hợp anh thanh niên đuổi bắt cướp bị chúng bắn chết ở Hà
Đông hay trường hợp 2 vợ chồng đánh cá bị nước cuốn trôi, để lại 4 đứa con thơ
ở Thừa Thiên – Huế…
Ngay
tiếp sau buổi Lễ nói trên, việc Ban Liên lạc họ Phạm thành phố Hồ Chí Minh tổ
chức thành công Đêm nhạc họ Phạm “Mọi trái tim, một tấm lòng” tại Nhà Văn hóa
Thiếu nhi thành phố với mục đích giao lưu, khuyến học và từ thiện cùng với Lễ
giỗ Thượng Thủy tổ Phạm Tu trong 2 ngày 18-19.8.2011 được dư luận cả trong và
ngoài nước quan tâm, được các phương tiện thông tin đại chúng quảng bá, được
đông đảo bà con họ Phạm và các tổ chức xã hội hoan nghênh.
Các
họat động xã hội được các BLL coi là nội dung quan trọng vì nó đáp ứng tâm
nguyện của bà con, được chính quyền, đoàn thể nhân dân ủng hộ, dư luận hoan
nghênh. Uy tín của BLL họ Phạm Việt Nam ngày càng lên cao. Thượng Thủy tổ của
họ Phạm Việt Nam, Danh nhân Phạm Tu, Khai quốc công thần triều Tiền Lý, người
anh hùng liệt sĩ đầu tiên được sử sách ghi nhận hy sinh trong chiến đấu bảo vệ
mảnh đất Hà Nội ngày nay ngày càng được các nhà khoa học, các cấp chính quyền
và đông đảo nhân dân tôn vinh. Nhiều thành phố lớn như Đà Nẵng, Huế… đã có
đường phố mang tên Người, dựng tượng Người. Thành phố Hà Nội còn đầu tư lớn tu
bổ, tôn tạo Đình thờ Người tại quê hương Thanh Liệt. Ngôi đình thờ uy nghi được
khánh thành ngày 19.12.2011 trong một buổi lễ trọng thể có các vị lãnh
đạo Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương tham dự là niềm tự hào của nhân
dân Hà Nội nói chung, nhân dân Thanh Trì, Thanh Liệt nói riêng. Đặc biệt, Đình
thờ có đề 4 chữ “Phạm Tổ Linh Từ” (Đền thờ Thủy tổ họ Phạm) là niềm tự
hào, niềm vinh dự to lớn, niềm vui vô bờ của tất cả những người họ Phạm Việt
Nam. Từ nay, nơi tôn nghiêm nhất của họ Phạm Việt Nam đã được xây dựng khang
trang xứng tầm, sẽ là nơi tâm linh của mọi người họ Phạm Việt Nam hướng về, là
nơi hành hương cho bà con họ Phạm và nhân dân cả nước. Thường trực Hội đồng
Toàn quốc họ Phạm Việt Nam đã có kế hoạch phối hợp với huyện Thanh Trì, xã
Thanh Liệt, Ban Quản lý Di tích trong việc phát huy hơn nữa giá trị của Di
tích, đẩy mạnh các hoạt động thường xuyên phục vụ khách thập phương và bà con
họ Phạm trong và ngoài nước, phát hành rộng rãi tài liệu nói về Danh nhân và họ
Phạm Việt Nam, tổ chức tốt các ngày Giỗ Tổ là dịp tập hợp đông đảo bà con xa gần giao
lưu, gặp mặt hàng năm.
Năm Nhâm Thìn - 2012
đang tới hứa hẹn một năm hoạt động sôi nổi việc họ trong cả nước. Đây
là năm đầu tiên hoạt động theo tổ chức mới mang tên Hội đồng họ Phạm Việt Nam
với hệ thống ngành dọc 5 cấp. Mở đầu, hàng loạt Hội đồng họ Phạm các
địa phương tổ chức Đại hội củng cố tổ chức, đẩy mạnh hoạt động. Những ngày Xuân
cũng là những ngày hội làng, giỗ họ đại tông, lễ hội các đền thờ…, là dịp các
Hội đồng gia tộc tổ chức đông đảo bà con họ mạc tham gia, có mời đại diện các
họ xung quanh cùng giao lưu gặp gỡ.
Hội
đồng họ Phạm thành phố Hồ Chí Minh đang tích cực chuẩn bị tổ chức Tuần
lễ Kinh tế - Văn hóa họ Phạm với quy mô hoành tráng. Phát huy thành
công vang dội của Đêm nhạc họ Phạm, chắc chắn Tuần lễ này sẽ thành công rực rỡ.
Hội đồng Họ Phạm TP Hà Nội đang khẩn trương chuẩn bị cho Cuộc gặp mặt Họ Phạm Hà Nội xuân
Nhân Thìn đã mong đợi từ lâu.
Năm
2012 sẽ xuất bản chính thức bộ sách “Họ Phạm trong cộng đồng dân Việt”
được biên soạn công phu với gần 2000 trang, chia thành 5 tập. Đây sẽ là tài
liệu khá đầy đủ về họ Phạm Việt Nam giúp cho mọi người nghiên cứu tìm hiểu và
tra cứu, góp thêm tài liệu chủ lực vào tủ sách họ Phạm vốn phong phú và có giá
trị thông tin cao.
Ngày
giỗ tổ 20.7 Nhâm Thìn là ngày giỗ đầu tiên tại Đình thờ mới chắc chắn
sẽ là một ngày hội long trọng, là ngày gặp mặt đông đảo của bà con xa gần. Tất
cả mọi người cùng vui mừng đón chào một năm nhiều hứa hẹn của họ Phạm chúng ta.
Phạm
Văn Dương.
Phó
Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký
Hội đồng
Toàn quốc họ Phạm Việt Nam
31 tháng 12, 2011
Mười sự kiện nổi bật năm 2011
Đăng ngày Thứ Bảy, tháng 12 31, 2011 bởi Phạm Đạo · 1 comments
Mười sự kiện nổi bật
trong hoạt động
của HỌ PHẠM VIỆT
NAM năm 2011
(theo
thứ tự thời gian)
Năm
2011 là một năm Họ Phạm Việt Nam trong cả nước có nhiều hoạt động sôi nổi và có
hiệu quả, thể hiện sự phát triển về chất trong hoạt động việc họ, làm cơ sở cho
việc đổi tên Ban Liên lạc Họ Phạm Việt
Nam thành Hội đồng Họ Phạm Việt Nam.
Ban Biên tập THÔNG TIN HỌ PHẠM VIỆT NAM và Ban Biên tập Trang tin điện tử hophamvietnam.org đã chọn và công bố 10 sự kiện nổi bật trong
hoạt động của Họ Phạm Việt Nam. Mười sự kiện đó là:
1. Quỹ Tấm lòng vàng Họ Phạm Việt Nam
được thành lập ngày 25.3.2011, tổ chức Lễ ra mắt tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội
ngày 29.5.2011. Quỹ thường xuyên hoạt động: trao Giấy biểu dương và thăm hỏi
gia đình anh Phạm Văn Chính (Hà Nội, tháng 10), trao trợ cấp gia đình anh Phạm
Thắng (Thừa Thiên, tháng 11).
2.
Lễ vinh danh nhân tài Họ Phạm Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức ngày 29.5.2011
tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Hà Nội..
3. Đêm âm nhạc Họ Phạm “Mọi trái tim-Một
tấm lòng” được tổ chức ngày 18.8.2011 tại Nhà Văn hóa Thiếu nhi TP Hồ Chí Minh
nhân dịp Giỗ Thượng Thủy Tổ.
4.
Cả nước tổ chức Lễ giỗ Thượng Thủy tổ Đô Hồ Đại Vương Phạm Tu lần thứ 1466, nổi
bật nhất là Lễ giỗ ở Đình Ngoại (Thanh Liệt, Hà Nội), quê hương Người và TP Hồ
Chí Minh vào ngày 20 tháng 7 Tân Mão (tức 19.8.2011).
5.
Dựng tượng Danh nhân Phạm Tu, Thượng Thủy Tổ Họ Phạm Việt Nam tại Huế (nhà thờ
Họ Phạm làng An Ninh Hạ) ngày 21.8.2011.
6.
Hai thành phố lớn ở miền Trung là Đà Nẵng và
Huế có đường phố mang tên Phạm Tu.
7.
Lễ kỷ niệm 15 năm thành lập BLL Họ Phạm Việt Nam (24.10.1996 - 24.10.2011) được
tổ chức ngày 23.10.2011 tại Hà Nội, tổng kết, đánh giá, rút ra những bài học
kinh nghiệm qua 15 năm hoạt động và vinh danh 15 vị có nhiều công lao với việc
họ.
8.
Hội nghị lần thứ hai BLL toàn quốc Họ Phạm
Việt Nam khóa VI kiện toàn tổ chức, đổi tên BLL Họ Phạm Việt Nam thành Hội đồng
Toàn quốc Họ Phạm Việt Nam, bổ sung sửa đổi Quy chế thành Quy chế tổ chức và hoạt
động của Hội đồng Họ Phạm Việt Nam với tổ chức theo hệ thống ngành dọc 5 cấp có
quy định lề lối hoạt động rõ ràng..
9.
Nhiều Ban Liên lạc, nhiều Hội đồng họ Phạm mới thành lập hoặc tổ chức Đại hội để
đổi mới, nâng cao quy mô và chất lượng hoạt động. Cấp tỉnh: Kinh Bắc, Nam Định,
Quảng Ngãi; Quảng Ninh, Hòa Bình, Quảng Nam-Đà Nẵng; cấp huyện hoặc tương
đương: TP Hạ Long (Quảng Ninh), Từ Sơn, Thuận Thành (Bắc Ninh), Quảng Điền (Thừa
Thiên Huế), Hoài Ân, An Lão (Bình Định),
TP Hà Giang, Vũ Thư (Thái Bình).
10. Lễ khánh thành Công trình Tu bổ tôn tạo đình thờ Đô hồ Đai
vương Phạm Tu ngày 19.12.2011.
BBT THÔNG TIN HỌ PHẠM VIỆT NAM
BBT Trang tin điện tử www.hophamvietnam.org
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



























